Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam

Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam


Đôi nét về công tích của Vương Triều Trần trên đất Lộ Hải Đông xưa - Hải Phòng nay

Từ khoảng giữa thế kỷ XII trở đi, vua quan nhà Lý ngày càng lao sâu vào con đường ăn chơi xa xỉ, chính quyền trung ương suy yếu và tàn tạ. Trong khoảng 20 năm đầu thế kỷ XIII, đất nước lâm vào cảnh loạn lạc do những cuộc chiến trnh đẫm máu do các phe phái phong kiến gây ra. Trong các thế lực cát cứ lúc bấy giờ nổi lên 4 tập đoàn lớn là: họ Trần ở Hải Ấp -Thái Bình (sau dời về Tức Mặc - Nam Định); Đoàn Thượng ở Hồng Châu (Hải Dương), Nguyễn Tự ở Quốc Oai (Hà Nội); Nguyễn Nộn ở Bắc Giang. Bấy giờ thấy lực lượng họ Trần có khả năng áp đảo chính quyền trung ương, lúc đầu nhà Lý đứng về phe họ Đoàn để chống lại, về sau lại quay phe họ Trần. Trải qua hơn chục năm binh đao, cuối cùng nhờ tài thao lược của Trần Thủ Độ thế lực họ Trần đã không chế được chính quyền trung ương. Thời kỳ này, miền đất Hải Phòng là địa bàn diễn ra cuộc đối đầu một mất một còn giữa thế lực họ Trần đang lên và quân đội Lý mạt do Đoàn Thượng cầm đầu.

Đoàn Thượng người làng Xuân Độ, huyện Gia Phúc (nay là), đất Hồng Châu (nay là huyện Gia Lộc - Hải Dương). Ông là con bà vú sữa của Thái tử Sảm nhà Hậu Lý. Thái tử lên ngôi làm vua (tức Lý Huệ Tông) cho Đoàn Thượng làm quan, có lúc được giao trấn thủ miền ven biển lộ Hải Đông. Thấy vùng cửa biển này gần hơn và thuận đường thuỷ vào đất liền, ông cho lập đồn phòng thủ và cấm không cho tàu thuyền ngoại quốc vào lối sông Cấm, sông Bạch Đằng (có thuyết nói tên sông Cấm bắt nguồn từ đó). Khi làm quan trấn thủ vùng này, Đoàn Thượng giúp dân khai khẩn ruộng hoang, đắp đê ngăn mặn nên diện tích được mở rộng. Thần tích một số xã như Đoàn Xá (Kiến Thuỵ), Đoạn Xá (Hải An), Tả Quan và Tân Dương (Thuỷ Nguyên)...đều ghi công ơn khai khẩn đất hoang của ông. Khi Trần Thủ Độ mưu ép Lý Chiêu Hoàng phải nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh và ám hại Lý Huệ Tông, Đoàn Thượng đem quân ra chiếm xứ Đông, đắp đồn lớn ở Bần Yên Nhân (Hưng Yên) để chống lại họ Trần. Lúc ấy, ở làng Phù Đổng cũng có Nguyễn Nộn nổi lên chống lại nhà Trần, thế lực khá mạnh. Biết chưa thể tiêu diệt được Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn nên nhà Trần phong vương cho cả hai, mời về Thăng Long hội thề. Nhưng Đoàn Thượng không đến, chỉ có Nguyễn Nộn về triều hội, được vua Trần phong tước Hoài Đạo Vương, lại đem công chúa Ngoạn Thiềm gả cho, sai trấn thủ miền Từ Sơn - Tiên Du (Bắc Ninh). Theo kế của Trần Thủ Độ, Nguyễn Nộn lập mưu mời Đoàn Thượng đến ăn thề kết nghĩa anh em. Nhưng Đoàn Thượng đến thì bị Nguyễn Nộn chỉ huy quân mai phục vây đánh bất ngờ lên Đoàn Thượng tử thương, chạy về đến xứ Đồng Dao thì mất. Tướng sĩ và nhân dân đã an táng ông ở nơi ấy. Trân địa bàn Hải Phòng có hàng chục làng xã lập đền miếu thờ Đoàn Thượng làm thành hoàng hoặc phúc thần.

    Đầu năm 1226, triều Lý phải dời khỏi vũ đài chính trị để nhường chỗ cho một vương triều mới - triều Trần (1226-1400). Triều Trần được thiết lập, chế độ trung ương tập quyền được khôi phục và cuộc nội chiến giữa các phe phái phong kiến chấm dứt. Trên nền tảng vững chắc đã được xây dựng từ thời Lý, triều Trần tiếp tục công việc dựng nước, củng cố quốc gia thống nhất, tăng cường tiềm lực quốc phòng và phát triển kinh tế để lo đối phó với nạn ngoại xâm.

    Một trong chính sách kinh tế của nhà Trần là phong cấp thái ấp cho những vương hầu quý tộc và những người có công để làm phên dậu bảo vệ chính quyền. Miền đất "quan yếu" Hải Phòng, được triều Trần hết sức chú trọng. Hưng Ninh Vương Trần Tung (đạo hiệu là Tuệ Trung thượng sĩ) là anh trai Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn - một quý tộc cao cấp nhà Trần có thái ấp ở vùng Dưỡng Chân ( Chính Mỹ - Thuỷ Nguyên). Trần Quốc Thành, một võ tướng cao cấp thuộc dòng dõi quý tộc được phong thái ấp ở đất Bàng Hà (vùng Hà Đới - Tiên Thanh, huyện Tiên Lãng). Trần Quốc Bảo là cháu vua Trần được ban thái ấp ở vùng Tràng Kênh - Dưỡng Động (Thuỷ Nguyên). Công chúa Thiên Thuỵ (con gái trưởng của vua Trần Thánh Tông) có thái ấp ỏ vùng May - Mõ (Kiến Thuỵ - An Lão). Em gái bà là công chúa Chiêu Trinh được ban cấp thái ấp ở vùng Kha Lâm - Tây Sơn (Kiến An). Trần Quốc Thi, một võ tướng thuộc dòng dõi quý tộc được phong thái ấp ở vùng Lạng Côn - Đại Trà (Kiến Thuỵ)...Toàn thư ghi rằng: "Chế độ nhà Trần, các vương hầu đều có phủ đệ ở hương của mình, khi chầu hầu thì mới đến kinh sư, xong việc lại trỏ về như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương...Các vương hầu cũng đem người nhà và hương binh, thổ hào làm quân giúp vua". Căn cứ và Toàn thư, truyền thuyết và dấu tích thì thái ấp của các thân vương, quý tộc nhà Trần ở Hải Phòng vừa là một tổ chức chính trị - quân sự, vừa là một đơn vị kinh tế - xã hội. Nhà vua không những ban thái ấp cho các vương hầu quý tộc và người có công, mà còn cho phép họ chiêu tập những người phiêu tán, không sản nghiệp làm nô tỳ đi khẩn hoang...

    Giữa lúc nhân dân Hải Phòng đang cùng nhân dân cả nước ra sức khắc phục những hậu quả của những năm nội chiến cuối triều Lý và đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước, thì những đoàn quân viễn chinh khét tiếng tàn bạo của Thành cát tư hãn và các vua chúa Mông Cổ đang tung hoành khắp lục địa Á - Âu, gây ra biết bao đau thương cho nhiều dân tộc. Sau khi đánh chiếm nước Đại Lý (Vân Nam, Trung Quốc), chúa Mông Cổ ra lệnh tấn công đánh chiếm nước Đại Việt, rồi từ đó mở gọng kìm đánh lên tiêu diệt nhà Nam Tống (Trung Quốc). Hốt Tất Liệt sai sứ sang dụ vua Trần đầu hàng. Vua Trần không nghe, ra lệnh tống giam sứ giả của quân xâm lược và gấp rút chuẩn bị kháng chiến. Các đạo quân thuỷ bộ dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn tiến lên bố chí phòng thủ biên giới. Đầu năm 1258, quân địch theo lưu vực sông Hồng xuống xâm lược nước ta. Trước thế giặc mạnh, sau vài trận đánh ác liệt tại Bình Lệ Nguyên (Phú Thọ), Phù Lỗ, Cà Lồ, triều đình nhà Trần tạm rút khỏi kinh thành Thăng Long và đóng giữ vùng Thiên Mạc (Khoái Châu - Hưng Yên) để bảo tồn lực lượng. Quân giặc chiếm được thành Thăng Long, nhưng trong 9 ngày chiếm đóng, chúng không tìm đâu ra bóng người và lương thực. Nhân lúc quân địch đang hoang mang, lo sợ, không có lương thực để nuôi đạo quân viễn chinh đông đảo, ngày 29 tháng 1 năm 1258, quân ta từ Thiên Mạc ngược dòng sông Hồng tiến lên, mở cuộc tấn công quyết liệt vào Đông Bộ Đầu (bên sông Hồng phía trên câu Long Biên, Hà Nội). Quân địch bị đánh bật khỏi kinh thành, tháo chạy lên Tây Bắc, rút khỏi biên giới. Hiện chưa tìm thấy trong sử cũ và truyền thuyết dân gian phản ánh về sự đóng góp của nhân dân miền Hải Phòng đối với thắng lợi của  cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất.

     Năm 1279, nhà Nguyên đánh bại nhà Tống, xâm lược toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc. Cuối năm 1282, một đạo quân Nguyên do Toa Đô chỉ huy được lệnh vượt biển đánh Chăm Pa, rồi từ đó đánh thốc lên phía nam Đại Việt để phối hợp với đại quân sẽ tiến công từ phía bắc xuống. Được tin quân Nguyên đang điều quân mượn có đánh Chăm Pa để xâm lược nước ta, triều Trần liền triệu tập hội nghị Bình Than với sự tham gia của các vương hầu, quan lại và các tướng soái cao cấp để bàn kế hoạch kháng chiến. Vua Trần Nhân Tông giao trọng trách tổ chức và lãnh đạo kháng chiến cho Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải với chức thượng tướng thái sư và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn với chức quốc công tiết chế thống lĩnh toàn bộ quân đội. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn viết bài "Hịch tướng sĩ" cổ vũ mạnh mẽ quyết tâm kháng chiến của toàn thể dân tộc, quân sĩ, thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước và lòng căm thù giặc. Được khích lệ bởi bài hịch đó, các chiến sĩ đã tự mình thích vào tay hai chữ "sát Thát" (giết quân xâm lược Mông Cổ). Đầu năm 1285, khi quân thù đã tiến sát biên giới, vua Trần cho mời các bô lão khắp cả nước về kinh thành Thăng Long dự hội nghị Diên Hồng, để hỏi kế đánh giặc. Tiếng hô đồng thanh "Đánh" thốt lên từ hội nghị Diên Hồng càng củng cố quyết tâm kháng chiến cho vua tôi nhà Trần, tinh thần của hội nghị Diên Hồng nhanh chóng làn ra khắp cả nước. Một không khí náo nức sắm sửa vũ khí, chuẩn bị lực lượng sục sôi khắp các làng xã, từ đồng bằng lên miền núi, từ đất liền ra hải đảo.

     Cuối tháng 1 năm 1285, các mũi tấn công của quân Nguyên bắt đầu vượt qua biên giới. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, nhà Nguyên đã huy động khoảng 50 vạn quân. Đạo quân Toa Đô đóng ở miền bắc Chăm Pa sẽ mở mặt trận tấn công vào phía nam nước ta. Thoát Hoan con trai Hốt Tất Liệt được phong làm Trấn Nam Vương, giữ chức tổng chỉ huy toàn bộ lực lượng viễn chinh. Đạo quân chủ lực của địch do Thoát Hoan trực tiếp chỉ huy, từ Quảng Tây hùng hổ tiến vào miền Lạng Sơn. Trần Quốc Tuấn tự mình đảm nhiệm mặt trận xung yếu này. Đạo quân Nguyên do Nạp - tốc - nạp - Đinh thống lĩnh, từ Vân Nam tiến sang theo lưu vực sông Chảy. Thượng tướng Trần Quang Khai chỉ huy mặt trận này.

    Thế giặc rất mạnh, nên cả ba mặt trận quân ta phải tổ chức rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng. Chúng đã chiếm được kinh thành Thăng Long và nhiều vùng rộng lớn. Cuộc kháng chiến đang ở lúc gay go, quyết liệt nhất, một số quý tộc, quan lại hèn nhát dao động và có kẻ đã đầu hàng giặc, nhưng lúc này ở Hải Phòng xuất hiện ngày càng nhiều những tấm gương dũng cảm, kiên cường, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập của Tổ quốc. Hai anh em Trần Nhội và Trần Phương, người trang Văn Đẩu (Kiến An) đã về tận quê tuyển mộ tuyển mộ quân sĩ theo Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật đánh giặc. Trần Nhội từng thi đậu Thái học sinh, được bổ vào Viện hàn lâm. Trần Phương đỗ võ cử, được sung làm quản vệ. Khi cuộc kháng chiến lần thứ hai nổ ra, Trần Nhội được phong chức Hữu quản binh trong đạo quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật. Ông là người tiến cử các em vợ là Nguyễn Thiên Lộc, Nguyễn Thiên Mẫn và Nguyễn Bình với Chiêu Văn Vương và đều được tin dùng. Các tướng sĩ thuộc đội quân do Trần Nhội, Trần Phương chỉ huy chủ yếu là người Kha Lâm, Văn Đẩu đã trực tiếp tham gia các trận ở Đại Mang, Hàm Tử, Tây Kết, Bạch Đằng...lập nhiều công lớn.

    Khi "Hịch tướng sĩ" dội về đến vùng đất Vĩnh Bảo, lập tức Vũ Đăng Dũng, người trang Đan Điền (Dũng Tiến) đứng ra chiêu mộ hương binh, lập đồn Cự Lai, rồi xin ra nhập vào quân triều đình đi đánh giặc cứu nước. Ông được giữ chức Đô đốc chỉ huy sứ quân, từng lập công lớn trong đại phá quân Nguyên ở Vạn Kiếp và trận Bạch Đằng năm 1288. Ở ấp Thiềng (Từ Lâm - Đồng Minh) có Hoa Duy Thành vốn là người văn võ song toàn, được suy tôn là thần đồng tập hợp các hào kiệt tham gia giúp nước. Đội quân của Hoa Duy Thành đã được Hưng Đạo vương thu nạp, cho tham gia trận tập kích quân Nguyên ở Vạn Kiếp, rồi tham gia truy đuổi tàn quân của Tháo Hoan rút chạy theo đường Lạng Sơn. Bấy giờ ở Nam Triệu giang (tức Thuỷ Nguyên ngày nay), tại trang Thuỷ Đường có Lại Văn Thanh, mồ côi cha từ sớm, được mẹ động viên đã tình nguyễn lên đường đánh giặc, được vua Trần tin dùng.  Nhờ lập công trong trận Bạch Đằng năm 1288 được phong chức Đô uý thượng phẩm đại liêu.

    Theo thần tích miếu Du Lễ (Kiến Thuỵ), Vũ Hải được phong tới chức Phó đô trung lang tướng được giao cầm quân dưới quyền chỉ huy của Thái sư Trần Quang Khải. Đội quân bản bộ của ông trực tiếp tham gia chặn đường tiến quân của Toa Đô từ Chăm Pa đánh vào Nghệ An. Sau lại theo Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đánh tan quân Nguyên ở sông Nhị Hà. Đặc biệt, trong trận Tây Kết, dưới sự chỉ huy trực tiếp của vua Trần, Vũ Hải đã cùng các tướng sĩ giết chết và bắt sống nhiều giặc, chém được đầu Toa Đô. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, Vũ Hải được cử giữ chức Bạt hải hữu tướng quân, chọn 40 trai tráng ở quê giỏi nghề bơi lội bổ sung vào đạo quân thuỷ trấn giữ cửa Than. Trong trận thuỷ chiến cửa biển Đại Bàng (ở giữa cửa Văn Úc và cửa Họng) diễn ra vào ngày 8 tháng 1 năm Mậu Tý (1288), ông đem quân bản bộ phối hợp với quân chủ lực của ta mở cuộc tập kích đoàn thuyền chiến địch, bắt được 300 thuyền, quân Nguyên chết đuối rất nhiều, ông đã anh dũng hy sinh.

    Ở trang Quỳnh Hoàng (Nam Sơn) thuộc huyện An Dương có Nguyễn Danh Uy đứng ra tuyển mộ 30 tráng niên giỏi võ nghệ lập thành đội quân thần tử kéo tới quân doanh yết kiến Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn xin được ra chiến trường đánh giặc. Nguyễn Danh Uy từng được Trần Quốc Tuấn giao nhiệm vụ cùng Hưng Nhượng vương, Hưng Trí vương, Hưng Vũ vương...đốc thúc các tướng lĩnh huy động 20 vạn quân mở cuộc đại phản công tiêu diệt giặc Nguyên trong cuộc kháng chiến lần thứ hai. Ông tiến cử bạn thân là Nguyễn Lãng, quê ở Hưng Hoá, có tài thao lược làm phó tướng cho mình trong trận phục kích trên Bạch Đằng năm 1288 và được Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn chấp thuận. Ở huyện An Dương còn có Hoàng Công Thản, quê ở Điều Yêu (Hồng Thái), vốn là người thông minh, ham học. Thời gian học tập ở kinh đô, Hoàng Công Thản kết giao bạn bè với Trần Khánh Dư, Lê Mục, Lê Quân...Nhờ sự tiến cử của Trần Quang Khải, ông được làm quan trong triều. Ông là người thẳng thắn, thanh liêm, cần mẫn nên mọi người đều kính nể. Tương truyền, Hoàng Công Thản là người đầu tiên giữ chức "Quản ca công sự vụ" của ngạch quản ca đời Trần. Nhưng khi quân Nguyên xâm lược nước ta lần thứ hai, ông xin được tham gia chiến đấu trong trận Tây Kết, trở thành tấm gương cổ vũ tinh thần xung trận của các tướng sĩ...

     Lại nói, khi quân ta mở cuộc rút lui chiến lược, quân địch thừa thắng truy kích gắt gao. Lúc này, triều đình đã rút về vùng Thiên Trường (Nam Định), Trường Yên (Ninh Bình), quân Nguyên liền tập trung binh lực từ Thăng Long tiến vào, từ Thanh Hoá đánh ra tạo thành hai gọng kìm hòng tiêu diệt quân chủ lực và bắt sống bộ tham mưu kháng chiến của ta. Dưới tài chỉ huy thao lược của Trần Quốc Tuấn, triều đình và quân đội nhà Trần đã thực hiện thành công cuộc phá thế bao vây của địch. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn hộ giá các vua Trần và bí mật đưa một đạo quân rút về các lộ vùng Đông Bắc (Hải Phòng - Quảng Ninh) để nhử địch đuổi theo, rồi chờ cho Toa Đô vượt qua Thanh Hoá tiến ra Trường Yên, thì quay lại chiếm lấy Thanh Hoá để làm căn cứ. Toa Đô vừa vất vả tiến quân ra Trường Yên lại được lệnh đánh vào Thanh Hoá. Đến đây âm mưu bao vây tiêu diệt quân chủ lực và bộ máy đầu não kháng chiến của ta, bị thất bại về cơ bản. Sách Toàn thư chép: "Ngày 26 (tháng 12 năm Giáp Thân 1284) vua (Trần Nhân Tông) ngự thuyền nhẹ ra Hải Đông, chiều tối rồi mà vẫn chưa ăn cơm sáng, có người lính là Trần Lai dâng cơm gạo xấu, vua khen là trung ban cho chức thượng phẩm, kiêm chức tiểu tư xã xã Hữu Triều Môn ở Bạch Đằng". Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư thì làng Thuỷ Chú (Thuỷ Nguyên) là nơi đưa tiễn hai vua Trần vào Thanh Hoá chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược quét sạch quân Nguyên ra khỏi cõi bờ.

    Tháng 5 năm 1285, từ Thanh Hoá Trần Quốc Tuấn tiến quân ra Bắc để tách đạo quân của Toa Đô ra khỏi đại quân của Thoát Hoan, rồi bất ngờ tổ chức các cuộc tấn công mãnh liệt vào các căn cứ phòng thủ của địch ở phía nam Thăng Long. Quân địch bị truy kích ráo riết và phục kích liên tiếp. Các tướng người Hải Phòng như Trần Nhội, Trần Phương, Trần Quốc Thành, Vũ Hải, Trần Quốc Thi...đều đem quân bản bộ tham gia những trận phục kích lớn ở sông Cầu, Vạn Kiếp và các trận đánh quyết định tại Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương... Theo thần tích thì tướng Vũ Hải là người chém được đầu Toa Đô trong trận Tây Kết. Sau gần 2 tháng phản công mãnh liệt của quân dân ta, khoảng nửa quân xâm luợc Nguyên bị quét sạch ra khỏi bờ cõi. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để quân lính khiêng mới thoát chết trốn về bên kia biên giới. Các tướng bảo vệ Thoát Hoan là Lý Hằng, Lý Quán đều bị chết vì trúng tên độc của ta.

     Cuộc kháng chiến lần thứ hai thắng lợi đã được ghi vào lịch sử như những chiến công chói lọi mãi mãi làm nức lòng nhân dân ta. Đối với vua Nguyên - Hốt Tất Liệt, một tên chúa phong kiến hiếu chiến không nuốt nổi nỗi nhục thất bại này. Hắn ra lệnh bãi bỏ xâm lược Nhật Bản đã được chuẩn bị từ trước, để dồn lực lượng vào cuộc xâm lược nước ta lần thứ ba. Bại tướng Thoát Hoan lại một lần nữa được trao chức tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh, vừa để lập công chuộc tội, vừa để rửa nhục cho vua Nguyên.

   Tháng 12 năm 1287, quân Nguyên chia làm ba đạo từ ba mặt tiến đánh nước ta. Ngoài hai mũi tiến công bằng bộ binh và kỵ binh từ Quảng Tây, Vân Nam sang, lần này chúng tạo thêm một mũi tấn công bằng thuỷ binh theo sông Bạch Đằng tiến vào. Trên hai mặt trận chống quân bộ của địch, quân ta theo kế hoạch của Trần Quốc Tuấn, vừa chặn đánh để kiềm chế và tiêu hao sinh lực địch, vừa tổ chức rút lui để bảo tồn lực lượng.

    Thuỷ binh địch, từ Khâm Châu (Quảng Đông) vượt biển tiến vào sông Bạch Đằng, sau đánh bại vài trận phục kích trên biển của ta do phó tướng Trần Khánh Dư chỉ huy, sinh chủ quan. Muốn lập công đầu, Ô Mã Nhi thống lĩnh cánh quân thuỷ đã vội vàng chỉ huy đội thuyền chiến vượt lên trước theo sông Bạch Đằng tiến nhanh về Vạn Kiếp để hội quân với Thoát Hoan, còn đoàn thuyền lương do Trương Văn Hổ chỉ huy ỳ ạch tiến theo sau. Trần Khánh Dư liền bố trí quân mai phục ở Vân Đồn (Cẩm Phả - Quảng Ninh), đón đánh tiêu diệt toàn bộ thuyền lương của địch. Chiến thắng Vân Đồn là đòn giáng mạnh vào kế hoạch xâm lược của quân Nguyên, làm thất bại ngay từ đầu kế hoạch hậu cần của chúng, dồn quân địch vào những khó khăn không thể khắc phục được về mặt lương thực. Tháng 2 năm 1288, quân Nguyên tấn công thành Thăng Long, cũng như hai lần trước, triều đình và quân ta lại tạm thời rút khỏi kinh thành, lui dần về hạ lưu sông Hồng và thực hiện kế sách "vườn không nhà trống". Thoát Hoan huy động quân thuỷ bộ đuổi theo ráo riết, nhưng không làm sao bắt được vua Trần và bộ chỉ huy quân ta. Chúng điên cuồng khai quật lăng mộ vua Trần Thái Tông, đốt phá làng mạc, tàn sát nhân dân.

    Rút kinh nghiệm từ những thất bại trước, lo sợ đại bản doanh ở Thăng Long bị bao vây và tiến công, hắn ra lệnh đốt phá kinh thành, rồi rút quân về Vạn Kiếp. Về đến căn cứ Vạn Kiếp, lương thực thiếu, tinh thần quân sĩ rã rời, lại bị quân ta tập kích liên tục. Thoát Hoan lo sợ như phát điên, vội vàng tìm cách rút lui để khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn. Hắn quyết định chia quân làm hai đạo, theo đường thuỷ bộ rút về nước. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy đạo quân thuỷ được lệnh rút lui trước theo đường sông Bạch Đằng. Thoát Hoan tự chỉ huy đạo quân bộ theo đường Lạng Sơn về nước.

    Sông Bạch Đằng lại một lần nữa được Trần Quốc Tuấn lựa chọn làm một trận địa mai phục đại quy mô để chôn vùi đạo quân thuỷ của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp.

    Sáng mồng 9 tháng 4 năm 1288, đoàn chiến thuyền quân Nguyên bắt đầu đi vào sông Bạch Đằng. Lực lượng quân bộ, thuỷ binh, dân binh ta đã phục sẵn trong các nhánh sông, cánh rừng rậm, sườn núi, hang sâu hai bên sông chờ lệnh tiêu diệt giặc. Khi toàn bộ chiến thuyền giặc lọt vào trận địa mai phục, giăng sẵn của ta, thì từ các ngách sông, các thuyền nhẹ của ta lao ra đánh thẳng vào thuyền giặc dồn chúng xô vào các bãi cọc. Địch định áp sát bờ đổ quân chiếm lấy núi cao để yểm hộ các đại chiến thuyền rút nhanh ra biển, như bị bộ binh ta đánh hất xuống sông. Khi triều xuống gấp, thuyền giặc to, nặng, lại bị bè mảng hoả công ta truy đuổi gắt gao đành để cuốn theo dòng nước, vướng cọc tan vỡ và cháy rất nhiều. Trận này địch bị tiêu diệt, bắt sống gần 8 vạn quân và đánh đắm gần 500 chiến thuyền, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ...  bị bắt sống. Vô số quân giặc bị vùi xác dưới đáy sông Bạch Đằng.

    Sử cũ và truyền thuyết dân gian phản ánh khá đậm nét sự tham gia của quân và dân Hải Phòng vào chiến dịch Bạch Đằng năm 1288. Ở Phả Lễ (Thuỷ Nguyên) có Mai Đình Nghiễm tổ chức dân địa phương lên rừng đẵn gỗ để xây dựng trận địa cọc ở cửa sông Chanh. Trần Quốc Tuấn cử Mai Đình Nghiễm chỉ huy một đội quân cảm tử chuyên đi dò xét tình hình địch, nhiều lần lặn xuống sông đục chìm thuyền giặc, khiến chúng hết sức hoảng sợ. Ông đã hy sinh trong một lần làm nhiệm vụ. Hai anh em Trần Hộ, Trần Độ chỉ huy dân làng Phục Lễ, Phả Lễ lập thành các đội dân binh tuần tra trên sông, đảm bảo việc giữ gìn bí mật cho trận địa cọc. Lý Hồng tổ chức cho dân làng Do Lễ (Tam Hưng - Thuỷ Nguyên) rèn giáo mác theo Trần Quốc Tuấn đánh giặc. Ở Do Lễ còn có Vũ Nguyên, nhà rất nghèo phải đi làm thuê nuôi mẹ vẫn động viên dân làng tham gia chiến đấu. Vũ Đại ở Dưỡng Động (Minh Tân - Thuỷ Nguyên) dẫn một đạo dân binh mai phục ở bến sông Bạch Đằng sẵn sàng diệt địch. Ông Lủi, bà Lủi là những người dân kiếm củi làng Tràng Kênh tự nguyện làm liên lạc cho giao thông quân đội. Bà hàng nước ở bến đò Rừng bằng tất cả kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình đã tận tình mách bảo cho Trần Quốc Tuấn về tình hình nước thuỷ triều lên xuống và địa hình địa vật vùng thượng lưu sông Bạch Đằng. Vũ Chí Thắng, người làng Hàng Kênh, huyện An Dương được làm việc bên cạnh Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, nhận sự uỷ thác của triều đình về miền Hải Đông bí mật bố trí đồn trại. Khi vây căn cứ Vạn Kiếp, có lần ông cho quân mặc giả quân Nguyên, ban đêm vào trại giặc rồi đốt lửa làm hiệu để trong đánh ra, ngoài đánh vào tiêu diệt địch. Với tài tiên đoán tài tình về tình hình di chuyển của quân địch, ông đã hiến kế chặn giặc trên sông Giá để buộc Ô Mã Nhi phải theo sông Đá Bạc vào bẫy của ta ở sông Bạch Đằng. Lương Toàn, người trang Quý Xuyên (nay thuộc xã Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo), tự bỏ tiền mua sắm vũ khí, tuyển 15 người tài giỏi trong trang xung quân dự trận Bạch Đằng.

  Để giúp cho quân đội nhà Trần giành thắng lợi chóng váng trong trận đại thuỷ chiến sông Bạch Đằng năm 1288, bà Bùi Thị Từ Nhiên ở trang Phú Lương (nay là thôn Phú Xá, quận Hải An) đã tự mình và vận động dân làng đóng góp lương thực nuôi quân. Bà Mai Thị Tuyến ở làng Sưa (An Lư - Thuỷ Nguyên) thấy sông Hà Tê chảy qua quê mình gây cản trở cho việc hành quân, bà đã xuất tiền của, thóc gạo vận động dân làng bắc một cây cầu qua sông để giúp việc quân. Quận Đa phu nhân ở trang Câu Tử (Hợp Thành - Thuỷ Nguyên) đã động viên hai người con trai theo vua Trần đánh giặc trong trận Bạch Đằng năm 1288 và cả hai đã anh dũng hy sinh. Nhân dân các làng xã dọc sông Giá, sông Bạch Đằng đã tích cực quyên góp lương thực, ủng hộ các phương tiện chiến đấu, giải quyết hậu cần tại chỗ cho quân đội. Nhân dân nhiều làng còn tổ chức kết bè, mảng chất củi khô, dầu trám phục vụ trận hoả công Trúc Động, ngăn không cho đoàn thuyền chiến của địch đi vào sông Giá, buộc phải xuôi theo dòng Đá Bạc lọt vào trận địa mai phục của ta ở sông Bạch Đằng

    Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là chiến công vĩ đại vào bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt của dân tộc ta, như Trần Hưng Đạo tổng kết, là chiến công của "cả nước góp sức", nhưng sức đóng góp to lớn nhất, trực tiếp nhất và đa dạng nhất chính là sức đóng góp của các làng xã trên mảnh đất Hải Phòng ngày nay. Trận Bạch Đằng năm 1288 đã đạt trình độ cao của một cuộc chiến tranh nhân dân, đưa khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam tiến bước vượt bậc, góp phần làm nên truyền thống "Đằng giang tự cổ huyết do hồng". Truyền thống Bạch Đằng là truyền thống đánh nhanh, diệt gọn; đánh giặc thông minh, mưu trí của nghệ thuật chiến tranh giữ nước đầy sáng tạo của dân tộc ta, của nhân dân Hải Phòng.

     Sau chiến thắng quân Nguyên, nhà Trần đã nhận thức được rất sâu sắc vị trí của miền Hải Phòng trong chiến lược phòng thủ đất nước nên đã đặc biệt lưu tâm đến việc củng cố làng xã ở nơi đây. Vua Trần ban thưởng tước phẩm, cử tôi trung trực tiếp quản lý làng xã. Trần Hưng Đạo nhiều lần trở về thăm lại chiến trường xưa và cử con trai thứ 5 về triêu tập dân lưu tán lập ra làng xã mới. Nhiều vị tướng thuộc dòng dõi nhà Trần, con rể vua, tướng soái tâm phúc của Trần Quốc Tuấn về sống giữa lòng dân, thực hiện chiến lược "sâu rễ bền gốc". Sử cũ chép rằng "Xã Chung Mỹ thờ thần là Hưng Trí vương, con thứ 5 của Hưng Đạo vương, theo Vương dẹp giặc Nguyên ở sông Bạch Đằng, về đến xã ấy chiêu tập  lưu dân, sau khi chết xã lập đền thờ". Sách Đồng Khánh dư địa chí lược cho biết thêm: "Xã Thụ Khê có đền thờ Trần Hưng Đạo, Vương dẹp Ô Mã Nhi, đi qua Thụ Khê, sau khi phá giặc, để lại một thanh kiếm", hoặc "Đền Trần Hoàng Tôn phụng thờ con trai Trần Anh Tông, tên là Quốc Bảo, dẹp giặc Bá Linh ở sông Bạch Đằng". Bản ngọc phả làng Thường Sơn chép rằng vua Trần gả con gái thứ 2 cho chàng trai họ Lại để phụng dưỡng mẹ già cho chàng yên tâm đánh giặc... Theo thần tích và truyền ngôn dân gian, sau khi giúp vua đuổi giặc, các tướng người Hải Phòng như: Nguyễn Chính, Hoa Duy Thành, Lương Toàn, Lại Văn Thanh, Nguyễn Danh Uy, Phạm Hữu Điều, Nguyễn Hoàng...đều xin trở về quê hương bản quán, khai khẩn đất hoang, mở rộng thái ấp điền trang, làng xóm. Với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập và xây dựng quần thể chùa tháp, tăng viện Yên Tử (Đông Triều - Quảng Ninh), lúc này chùa chiền ở Hải Phòng cũng đua nhau mọc lên. Hầu như làng xã nào cũng có chùa thờ Phật, trong đó nổi tiếng hơn cả là tịnh thất của Hưng Ninh vương Trần Tung (tức Tuệ Trung thượng sĩ là thầy dạy giáo lý nhà Phật cho vua Trần Nhân Tông) dựng ở làng Dưỡng Chân (Chính Mỹ - Thuỷ Nguyên). Chùa làng Bùi (Điều Yêu - An Dương) do bà Bùi Thị Thực là chị gái hai tiến sĩ Bùi Xuân Hổ, Bùi Xuân Hùng, người làng này xây dựng. Công chúa Thiên Thuỵ xây chùa Mõ (Kiến Thuỵ), công chúa Chiêu Trinh xây chùa Kha Lâm và công chúa Chiêu Hoa xây chùa Quy Tức... Cuối đời Trần, Hải Phòng là địa bàn hoằng dương Phật Pháp của Thiền sư nổi tiếng là Thánh Tổ Non Đông. Thánh Tổ Non Đông thế danh là Vương Huệ ở tổ đình Quang Khánh (xã Dưỡng Mông - Hải Dương), tục gọi là Tổ Muống hay Tổ Cáy. Ngài là bậc danh tăng đức cao đạo trọng, độ được nhiều đệ tử, được vua Trần Minh Tông ban đạo hiệu Từ Giác quốc sư. Tương truyền, tự tay ngài dựng cả thảy 72 ngôi chùa ở lộ Hải Đông, trong đó có nhiều chùa trên địa bàn Hải Phòng ngày nay như: Phục Lễ, Phương Mỹ, Nhân Lý, chùa Cao trên núi Vân Ô (thị trấn núi Đèo), chùa Đông Tạ... Qua đây, có cơ sở nghĩ rằng các làng xã ở Hải Phòng vào khoảng thời Trần về cơ bản đã trở thành các làng xã ổn định và phát triển.