Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam

Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam


ĐÌNH ĐẨU SƠN - DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG

    Đình Đẩu Sơn là ngôi đình chung của làng Văn Đẩu xưa, nay thuộc địa bàn phường Văn Đẩu, quận Kiến An. Đình Đẩu Sơn còn được gọi là đình Cả để phân biệt với các ngôi đình khác của làng được xây dựng sau này như: đình Đẩu Sơn hạ, đình Yến Vũ, đình Phượng Trì... Đình nằm ở dìa làng, mặt quay hướng Nam, xa xa Cửu Biểu giang (sông Đa Độ) quanh năm lưu thuỷ nhập điền. Từ "nội xóm ngõ" đến "ngoại đồng điền", ở đâu người ta cũng dễ dàng nhận ra ngôi đình Đẩu Sơn nhờ mái ngói rêu mốc, đầu đao cong vút cứ lấp ló ẩn hiện sau những tán đa, đề, bàng...cổ thụ xanh um, u tịch. Trước đình là hồ bán nguyệt soi ánh Thiên quang, các vì tinh tú, đưa đất trời, hồn nước vào lòng người.

      Ngôi đình Đẩu Sơn to, rộng, sừng sững soi bóng dưới mặt hồ bán nguyệt - điểm tụ thuỷ tích phúc cho thế đất, với mái ngói nặng trĩu, khối hình "nội công ngoại quốc" chắc lẳn, la đà trong không gian...chỉ còn đọng lại hình bóng không bao giờ phai mờ trong ký ức của các bậc cao niên mà thôi. Căn cứ vào nội dung bia "Lập khoán bia ký" dựng năm Chính Hoà thứ 20 (1699) và dấu vết vật chất hiện tồn như: cổng (gồm các cột gạch bốn mặt, vững chãi vươn lên vun vút, càng cao càng thu vào, chỗ nào cạnh cũng sắc nét, đỉnh là bốn con chim phượng chụm lại hất đuôi lên như một bông hoa xoè nở), sân đình, nền đình, vật liệu xây dựng (gạch, ngói, con giống)...cho thấy phó mặc 47 điều giáo hoá của Trịnh Tạc mới ban hành vào năm 1663, dân làng Văn Đẩu dám bỏ tiền của, công sức dựng ngôi đình Cả nguy nga, gồm nhiều toà ngang dãy dọc quả là táo bạo.

    Xưa kia, Văn Đẩu là một làng lớn, đứng đầu tổng Văn Đẩu, huyện An Lão, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Theo hồ sơ thần tích khai năm 1938, làng Văn Đẩu có 11 thôn: Đẩu Sơn, Đông Linh, Tân Đức, Xuân Biểu, Tu Văn, Thuần Mỹ, Phương Trì, Đẩu Bính, Đẩu Quang, Văn Đẩu, Yển Vũ. Theo cổ lệ, làng cũ Văn Đẩu tôn thờ cả thảy 11 vị thành hoàng ở các thôn riêng. Riêng đình Đẩu Sơn (tức đình Cả của làng) thờ 5 vị thành hoàng - Ngũ tướng huân danh lưu sử sách là Trần Nhội, Trần Phương, Nguyễn Chính, Tô Phong và Trần Văn Bích, đều là người trang Văn Đẩu, có công đánh giặc và mở mang xóm làng.

    Theo thần tích, Trần Nhội, Trần Phương là hai anh em sinh đôi, con ông Trần Đức Thái và bà Vũ Thị Huề ở trang Văn Đẩu nay là phường Văn Đẩu, quận Kiến An. Tương truyền, bà Vũ Thị Huề khi có thai ăn rất khoẻ và rất thích món cá chép. Từ khi còn nhỏ, Trần Nhội ham văn chương, Trần Phương chuộng võ nghệ. Trần Nhội tính tình khoáng đạt, nhân từ, khiêm cung. Trần Phương tính rất ngang tàng mạnh tợn. Năm 14 tuổi, cha mẹ qua đời. Hai anh em thương yêu đùm bọc, tuy cảnh mồ côi nhưng vẫn chăm chỉ học hành, rèn luyện. Có nhà hoà phú ở trang Kha Lâm (Kiến An) gần bên quý mến Trần Nhội cho ở rể và giúp đỡ. Năm 20 tuổi, gặp khoa thi, cả hai anh em lên kinh đô thăng long ứng thí. Trần Nhội đậu Thái học sinh (Tiến sĩ), được bổ vào Viện Hàn Lâm. Trần Phương đậu võ cử, được cử làm quản vệ, tham gia bàn bạc việc quốc sự.

    Năm Nhâm Ngọ (1284), giặc Nguyên sang xâm lược nước ta, Trần Nhội được phong chức Hữu quản binh, đem quân theo Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật chống giặc. Trần Phương được giao chỉ huy một đội quân tinh nhuệ dưới trướng của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Trần Nhội tiến cử người em vợ là Nguyễn Thiên Lộc, Nguyễn Thiên Lộc lại rủ người em con chú là Nguyễn Mẫn tuổi trẻ tài cao, được bố mẹ ông nuôi duỡng từ nhỏ cùng ra phò vua giúp nước. Cả hai anh em Nguyễn Thiên Lộc, Nguyễn Mẫn đều được Chiêu Văn vương thu nạp và sai giúp Trần Nhội.

   Đội quân do Trần Nhội, Trần Phương chỉ huy, có nhiều tướng sĩ là người trang Văn Đẩu, Kha Lâm, trực tiếp tham gia chiến đấu nhiều trận ở Đại Mang, Hàm Tử, Tây Kết, Bạch Đằng...lập nhiều chiến công lớn. Sau này, các tướng Trần Nhội, Trần Phương còn tham gia chống giặc Ai Lao quấy nhiễu biên giới, theo nhà vua đi dẹp giặc ở Kiền Châu, Con Cuông. Do phải hành quân đánh giặc ở những nơi "rừng thiêng nước độc", "lam sơn chướng khí" nên cả hai ông đều bị mắc bệnh sốt rét rất nặng, được vua Trần cho về quê hương bản quán dưỡng bệnh. Ngày 20 tháng Chạp năm Canh Tý - 1300, hai anh em Trần Nhội, Trần Phương cùng hoá dưới gốc cây Nhội, nay vẫn còn lăng mộ ở khu Long Khê, Giếng Lăng ở vùng Cận Sơn của làng Văn Đẩu. Nghe tin hai ông từ trần, triều đình sai sứ giả về tận Văn Đẩu làm lễ truy tặng huân công, truyền cho trang Văn Đẩu, Kha Lâm lập miếu, đền phụng thờ. Trần Nhội được truy tặng là Lân linh Quan phục hầu đại vương. Trần Phương được truy tặng là Bách kỵ hầu đại vương.

   Cũng theo thần tích, ngọc phả, đình Văn Đẩu còn là nơi phối thờ các vị thành hoàng: Tô Phong, quê ở vùng Chí Linh, là đạo sĩ giỏi nghề làm thuốc, chữa bệnh; Nguyễn Chính, quê ở Văn Đẩu, theo học đạo sĩ Tô Phong. Có lần Nguyễn Chính đưa thầy về thăm quê, gặp lúc bệnh dịch đang hành hoành, cả hai thầy trò ra tay cứu giúp. Khi dân làng tỏ ý muốn hậu đãi, đạo sĩ Tô Phong thấy Văn Đẩu có địa thế đẹp, phong tục thuần hậu, con người nhân nghĩa, bèn xin làm được làm thần tử. Về sau, hai thày trò Tô Phong, Nguyễn Chính có công chữa khỏi bệnh cho Thượng hoàng Trần Thánh Tông, được ban phong là Tả - Hữu hành khiển, làm việ trong Thái Y Viện; Trần Văn Bích, người làng An Sinh, Chí Linh, vốn thông minh, hiếu học, được bổ làm quan trong triều. Thấy ông có tài văn học xuất chúng, vua Trần gả công chúa Thiên Căn, phong làm phò mã Đô uý. Làm quan đồng triều, mến mộ tài năng, đức độ của nhau, Nguyễn Chính và Trần Văn Bích kết nghĩa tâm giao. Một lần về thăm trang Văn Đẩu thấy cảnh quan nơi đây "sơn thuỷ hữu tình", con người thuần hậu, trọng nghĩa khinh tài, Trần Văn Bích xin dân làng cho làm thần tử. Do có nhiều công lao đóng góp mở mang xóm làng, sau khi chết các ông đều được dân làng lập đền miếu phụng thờ, tôn làm phúc thần.

    Ngoài giá trị lịch sử nêu trên, đình Đẩu Sơn còn là chứng nhân của biết bao sự kiện phản ánh tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm của vùng đất Kiến An. Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đánh chiếm Hải Phòng. Năm 1883, dưới sự lãnh đạo của Thống Trực (Kha Lâm), Tổng Hộc - Trần Thành Hộc, Bùi Đức Âm (Văn Đẩu), Lãnh Thơ (Trữ Khê), nhân dân Văn Đẩu, Kiến An đã phối hợp với nhân dân Sái Nghi, Biều Đa...nổi dậy chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày ấy, đình Đẩu Sơn đã được các lãnh tụ nghĩa quân chọn làm nơi đặt đại bản doanh chỉ huy trận đánh giặc Pháp càn quét tại sông Đa Độ (khu vực Đầm Bầu). Tiếp đó, vào các năm 1894-1899, đình Đẩu Sơn lại được các nhà yêu nước Nguyễn Văn Kít, Trần Thành Ghi và Bùi Bá Hải chọn làm căn cứ bí mật của phong trào Mạc Thiên Binh và là nơi tập kết lực lượng chuẩn bị tấn công đồn binh Pháp ở bên sông Lạch Tray, đột kích vào nội thành. Năm 1929-1930, ở Văn Đẩu, Kha Lâm, Quy Tức, ở đơn vị pháo thủ có nhóm Việt Nam Quốc dân đảng hoạt động chống Pháp, có ảnh hưởng tới các huyện khác của các tỉnh đồng bằng duyên hải Bắc Bộ. Tháng 2-1930, thủ lĩnh nghĩa binh của Việt Nam Quốc dân đảng Bùi Đức Chủ đã tập hợp lực lượng tại đình Đẩu Sơn, làm lễ xuất quân đánh chiếm tỉnh lỵ Kiến An, việc bất thành, giặc Pháp điên cuồng khủng bố xóm làng.

   Đặc biệt, cuối năm 1944, các ông Trần Thành Thoả, Trần Thành Ngọ đã tổ chức thành lập đội tự vệ cứu quốc Đẩu Sơn - Văn Đẩu tại đình Cả. Đây là lực lượng nòng cốt của phong trào cách mạng địa phương. Tiếp đó, ngày 24-8-1945, lực lượng Việt Minh cùng đội tự vệ Cứu quốc Văn Đẩu xuất phát từ đình Văn Đẩu đánh chiếm nhà Séc - Panh, cạnh toà công sứ Kiến An. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đình Văn Đẩu là nơi diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi của chính quyền và đoàn thể cách mạng địa phương như: mở các lớp tập huấn chính trị cho cán bộ, bộ đội, dân quân du kích, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, thiếu niên, nhi đồng...

    Đình Văn Đẩu tồn tại nguyên vẹn trong thời gian dài cho đến năm 1946-1947 thực hiện chủ trương "tiêu thổ kháng chiến" của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cổ đình bị hạ giải, chỉ còn hai toàn giải vũ. Và trong thời kỳ địch tạm chiếm, cơ sở cách mạng tiến hành đào một căn hầm bí mật dưới toà miếu thờ thổ thần bên gốc đề cổ thụ để che giấu cán bộ, bộ đội về địa phương hoạt động...Cây đề già hàng trăm năm tuổi vẫn còn uy nghị soi bóng bên hồ.

    Với giá trị tự thân, năm 2006, phế tích đình Đẩu Sơn đã được UBND thành phố công nhận là di tích lịch sử - kháng chiến cấp thành phố. Và năm 2011, thành phố đã quyết định đầu tư 100 triệu đồng cho việc chống xuống cấp, tôn tạo di tích đình Đẩu Sơn. Nhân dịp này, chính quyền và nhân dân địa phương thành tâm kêu gọi những tấm lòng hằng tâm hằng sản, bà con xa quê phát tâm công đức vào việc phục dựng đình xưa miếu cũ, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, bảo tồn truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc trên quê hương cách mạng.

Trần Phương