Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam

Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam


TRẠNG NGUYÊN TRẦN TẤT VĂN
TRẠNG NGUYÊN TRẦN TẤT VĂN
Tác giả bài biểu Lui vạn binh nổi tiếng trong lịch sử bang giao Đại Việt

                                                                                        Trần Phương

Trạng nguyên Trần Tất Văn, người làng Nguyệt Áng, tổng Đại Hoàng, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay là thôn Nguyệt Áng, x. Thái Sơn, h. An Lão, TP. Hải Phòng) thi đỗ Đình nguyên, Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 (1526) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông là tác giả bài biểu Lui vạn binh nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở cả Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên...

Trạng nguyên Trần Tất Văn được người đời tôn vinh, nể trọng chủ yếu do đức độ, dốc lòng làm việc thiện “khuyến học, lo đời”, sống thanh bạch, không màng công danh, phú quý. Đặc biệt, người đương thời rất khâm phục bài biểu của vương triều Mạc (1527 - 1592) do ông trực tiếp soạn gửi nhà Minh. Ngày ấy, nhân lúc Mạc Đăng Dung mới khai lập nên vương triều Mạc lòng người còn chưa yên, nhà Minh giở chiêu bài “Phù Lê” nhăm nhe xâm lược nước ta, sai viên tướng có tiếng là thao lược Mao Bá Ôn đem đại quân áp sát biên giới gây áp lực, đòi cống nạp, cướp đất, đòi nộp con tin, đòi cống thợ giỏi, đòi tìm con cháu nhà Lê lập ngôi vua... Biết được nhân cách, tài năng và tư tưởng tiến bộ của Trạng nguyên Trần Tất Văn, Mạc Đăng Dung đã giao cho ông, một mệnh quan của triều đình cũ, chuyên lo việc bang giao với nhà Minh, tìm mọi cách để đất nước tránh được cuộc can qua binh lửa. Đó chính là bối cảnh mà Trạng nguyên Trần Tất Văn đã dốc hết tâm lực, trí tuệ, sự hiểu biết, tài ngoại giao ứng đối của mình cho việc soạn bài biểu nhân danh “Sơn hà xã tắc” gửi triều đình nhà Minh. Sách “Công dư tiệp ký” của Vũ Phương Đề chép lại bài biểu này với cái tên “Một bài biểu lui vạn binh”, trong đó có câu rất nổi tiếng như:

- Vị tiểu quốc bất học vô nhân, lễ nghĩa hà túc thâm trách.

- Mẫn An Nam vô cô xích tử, phong nhận nhẫn sử hoành la.

Có nghĩa là: Cho nước tôi là vô nhân ít học thì lễ nghĩa sao đáng trách móc? Bảo thương dân An Nam vô tội, nỡ nào đem gươm giáo đâm chém?

Tương truyền, Mao Bá Ôn đọc biểu rơi nước mắt rồi quyết định lui quân.

Trong lịch sử bang giao thời quốc gia Đại Việt, lời lẽ và sức mạnh của bài biểu “Lui vạn binh” của Trạng nguyên Trần Tất Văn có thể được sánh ngang với lời đối đanh thép “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” của sứ thần Giang Văn Minh.

Theo nhà sử học Ngô Đăng Lợi, trong số 47 trạng nguyên của nước nhà, Trần Tất Văn là trạng nguyên thứ 30 của các triều đại Lý - Trần - Hậu Lê và là trạng nguyên thứ 21 cũng là trạng nguyên cuối cùng của nhà Hậu Lê nổi tiếng trong lịch sử phát triển giáo dục, đào tạo hiền tài của nước ta thời Trung Đại. Khoa thi Đình năm Thống Nguyên thứ 5 (1526) này, do tình hình loạn lạc nên không dựng bia tiến sỹ ở Văn Miếu Thăng Long, nhưng tên Trạng nguyên Trần Tất Văn được ghi ở tất cả các sách Đăng khoa lục. Tất cả các sách Đăng khoa lục đều ghi rõ Trần Tất Văn người làng Nguyệt Áng, huyện An Lão đỗ Đệ nhất giáp tiến sỹ cập đệ đệ nhất danh khoa Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên 5, làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước Hàn Xuyên Bá, từng được cử đi sứ nhà Minh. Con ông là Trần Tảo đỗ đồng tiến sỹ khoa Ất Sửu niên hiệu Thuần Phúc 4 triều Mạc, làm quan đến chức Thừa chánh sứ. Trong lịch sử khoa bảng nước ta thời quân chủ chuyên chế, gia đình có cha đỗ Trạng, con đỗ Nghè chỉ có 7 gia đình mà thôi, trong đó có gia đình Trạng nguyên Trần Tất Văn.

Làng Nguyệt Áng - nơi Trạng nguyên Trần Tất Văn sinh ra và lớn lên có mạch núi cao, sông Cửu Biều lượn quanh, đất đai tươi tốt, khí tinh hoa tụ họp lại. Bởi thế, dân làng còn mãi truyền tụng câu đối ca ngợi truyền thống hiếu học của quê hương do cha con Trạng nguyên Trần Tất Văn là người đắp móng, xây nền: “Một áng văn chương, dò đâu đó, nền tể tướng, đất trạng nguyên, làng Nguyệt Áng địa linh nhân kiệt - Mấy hàng chữ, đáng là bao, của Thương Thư nhà An Sát, đất Cổ Am, nguyện lộng phong lâu”. Trải qua bao biến thiên, thăng trầm của lịch sử, Nguyệt Áng vẫn đang là một làng quê nghèo, dù rất hiếm cơ may để được học hành thi cử, nhưng bù lại, thời nào làng Nguyệt Áng nói riêng, xã Thái Sơn nói chung cũng xuất hiện những người sáng dạ, ham học hành. Việc học hành đã trở thành nỗi ao ước cháy bỏng trong mỗi người dân Thái Sơn, An Lão. Khắp trong xã, ngoài làng đi đâu cũng thấy cảnh dòng họ này thi đua với dòng họ khác, ông dậy cha, chay dạy con để cùng nhau tạo nên truyền thống: ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà. Tấm gương hiếu học, suốt đời mang nghĩa nặng, tình sâu với quê hương, gia đình, dòng tộc của Trạng nguyên Trần Tất Văn từ ngàn xưa vẫn được lưu truyền như ngọn tuệ đăng rọi tới ngày nay. Chẳng thế mà trên mảnh đất Thái Sơn bây giờ vẫn còn lưu giữ được nhiều dấu tích gắn với việc học hành của Trạng nguyên Trần Tất Văn như: núi Chồng sách, đường Bút nghiên, đường Đống Đế, lăng Nghè, Từ Chỉ (văn miếu hàng huyện)...

Đời truyền rằng, năm nào ông cũng dành phần lớn bổng lộc vua ban để gây quỹ khuyến học giúp đỡ các học trò nghèo ở quê hương, chăm ngoan học giỏi... Trong khuôn khổ một bài báo khó có thể nói hết những tình cảm và việc làm đầy ân nghĩa của Trạng nguyên Trần Tất Văn đối với quê hương Thái Sơn, An Lão. Nhưng tiếc thay, những di sản văn hoá mà Trạng nguyên Trần Tất Văn để lại cho quê hương, đất nước đã bị mai một, thất lạc, mất mát gần hết. Một phần lớn là do khi nhà Lê Trung Hưng giành được ngôi báu, với chính sách trả thù tàn khốc, toàn bộ “Trần Gia Trang” ở làng Nguyệt Áng bị san thành bình địa, những công trình kiến trúc - nghệ thuật gắn với công tích Trần Văn Tất, Trần Tảo đều bị phá huỷ, gia tộc họ Trần ở làng Nguyệt Áng, người bị giết, bị đi đày hay phải trốn tránh khắp nơi, gia phả dòng tộc bị thất truyền. Theo Lê triều thông sử, ngày 14-1 năm Quý Mùi (1593), con trai Quan Trạng là Thừa chính sứ Trần Tảo bị quân Lê - Trịnh bắt cùng với nhiều quan lại cao cấp khác của nhà Mạc. Tục truyền, cả gia đình Trạng nguyên Trần Tất Văn bị tàn sát ở bến Thanh Lâm (Cẩm Giàng, Hải Dương).

Dẫu di sản văn hoá của Trạng nguyên Trần Tất Văn còn lại không nhiều, nhân dân Nguyệt Áng, Thái Sơn chỉ còn lưu giữ được phế tích đền thờ Quan Trạng do tiền nhân xây dựng, phế tích Từ chỉ (văn miếu hàng huyện) và hậu cung chùa Vĩnh Khoát đều do Quan Trạng bỏ tiền của xây dựng. Tất cả các công trình này đều nằm trên khu đất thuộc “Trần Gia Trang” thuở trước và đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia.

Để tôn vinh và nối dài công tích và đức độ của Trạng nguyên Trần Tất Văn, UBND TP đã phê duyệt dự án tu bổ, tôn tạo và phục dựng khu di tích tưởng niệm Quan Trạng Áng; đồng thời mở đợt phát hành xổ số từ ngày 1-10 đến 7-11-2007 nhằm huy động từ những tấm lòng “hằng tâm, hằng sản” của người Hải Phòng, của dân đất gạch, giọt đồng, giúp nhân dân Nguyệt Áng, Thái Sơn hoàn thành tâm nguyện tri ân Trạng nguyên Trần Tất Văn.