Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam

Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam


Họ Trần ở Việt Nam ( phần 3 )

Các đời vua triều đại nhà Trần 

LỊCH SỬ NGUỒN GỐC NHÀ TRẦN.

Nhà Lý suy vi, Lý Huệ Tông mất, do không có con trai, Lý Chiêu Hoàng là thứ nữ lên nối ngôi. Lúc này quyền lực hầu hết vào tay Trần Thủ Độ. Trước đó Trần Thủ Độ sắp xếp cho Trần Cảnh lấy Lý chiêu Hoàng làm vợ. Sau khi ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi, Trần Cảnh lên làm vua khi đó mới 8 tuổi, Thái sư Trần Thủ Độ và Trần Thừa nhiếp chính. Nhà Trần chính thức bắt đầu từ đây –  năm 1225. Trong khoảng 175 năm trị vì, nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt ba lần kháng chiến, đánh thắng giặc Nguyên Mông vào các năm 1258, 1285 và 1288. Xây dựng một nước Đại Việt cường thịnh, nhân dân no ấm, cuộc sống yên bình, mùa màng tươi tốt, văn hóa phát triển, các nghề thủ công mỹ nghệ như nghề Dệt, nghề sản xuất Gốm, nghề Rèn phát triển mạnh mẽ.

Nhưng từ đời vua Dụ Tông, thì nhà Trần bắt đầu suy yếu. Đến năm 1400 Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập lên nhà Hồ. Nhà Trần chấm dứt 175 năm trị vì.

I-                  THỨ TỰ CÁC VỊ VUA NHÀ TRẦN:

1-              Trần Thái Tông – Trần Cảnh (16/6/1218 – 01/4/1277).

2-              Trần Thánh Tông – Trần Hoảng (12/10/1240 – 03/7/1290)

3-              Trần Nhân Tông – Trần Khâm (07/12/1258 – 16/12/1308)

4-              Trần Anh Tông – Trần Thuyên (17/9/1276 – 16/3/1320)

5-              Trần Minh Tông – Trần Mạnh (21/8/1300 – 19/02/1357)

6-              Trần Hiến Tông – Trần Vượng (17/5/1319 – 11/6/1341).

7-              Trần Dụ Tông – Trần Hạo (19/10/1336 – 25/5/1369).

8-              Trần Nghệ Tông – Trần Phủ (tháng 12/1321 – 15/12/1394)

9-              Trần Duệ Tông – Trần Kinh (30/6/1337 – 04/3/1377)

10-                       Trần Phế Đế - Trần Hiện (06/3/1361 – 06/12/1388)

11-                       Trần Thuận Tông – Trần Ngung (1377 – tháng 4/1399)

12-                       Trần Thiếu Đế - Trần An (sinh 1396 mất không rõ năm nào)

II-              SƠ LƯỢC CÁC VỊ VUA NHÀ TRẦN:

1-    Trần Thái Tông – Trần Cảnh (16/6/1218 – 01/4/1277) là vị Hoàng đế đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử việt Nam. Ông lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ nhất ở Đông Bộ Đầu năm 1258. Ông ở ngôi 32 năm (1225 - 1258). Ông nhường ngôi cho con là thái tử Trần Hoảng và làm Thái Thượng Hoàng 19 năm cho đến khi qua đời (chi tiết cuộc đời và sự nghiệp trị vì của ông sẽ có ở phần sau).

2-    Trần Thánh Tông – Trần Hoảng (12/10/1240 – 03/7/1290). Là vị Hoàng Đế thứ hai của nhà Trần. Mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng Hậu Lý Oanh. Ngay sau khi ông được sinh ra, ông đã được lập làm Hoàng Thái Tử. Ngày 24 tháng 2 niên hiệu nguyên phong thứ 8 (tức 30/3/1258) Trần Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng. Trần Thánh Tông lên ngôi xưng làm Nhân Hoàng. Ông ở ngôi 21 năm, đất nước được yên trị. Năm 1278 ông nhường ngôi cho Thái Tử Khâm (vua Trần Nhân Tông), làm Thái Thượng Hoàng với tôn hiệu là Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng Đế, Ông về ở Bắc cung rồi đi tu, nghiên cứu Phật học, viết sách cho đến khi qua đời (chi tiết cuộc đời và sự nghiệp trị vì của ông sẽ có ở phần sau).

3-    Trần Nhân Tông – Trần Khâm (07/12/1258 – 16/12/1308) Tự là Nhật Tốn, xưng là Hiếu Hoàng, hiệu là Trúc Lâm Đại Sỹ. Ông  là vị Hoàng Đế thứ ba của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Hậu Trần Thị Thiều (con gái của Khâm Minh Đại Vương Trần Liễu, em gái của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn). Ông trị vì 15 năm (1278 - 1293), nhường ngôi cho con là Thái tử Trần Thuyên (vua Anh Tông Nhân Hiếu Hoàng Đế) và làm Thái Thượng Hoàng 5 năm, xuất gia 10 năm, thọ 51 tuổi. Ông qua đời ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử. Đưa về táng ở Đức Lăng (thuộc Thái Bình). Ông được nhiều sử ký ca tụng như minh quân bậc nhất trong lịch sử Việt Nam. Có vai trò lãnh đạo quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba (chi tiết cuộc đời và sự nghiệp trị vì của ông sẽ có ở phần sau).

4-    Trần Anh Tông – Trần Thuyên (17/9/1276 – 16/3/1320) tự xưng là Anh Hoàng. Ông  là vị Hoàng đế thứ tư của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Mẹ là Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng Hậu Trần Thị, là con gái của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Năm 1292 ông được lập làm Thái tử. Vợ ông là con gái trưởng của Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng. Ông ở ngôi 21 năm (1293 - 1314), ông nhường ngôi cho Thái tử Trần Mạnh (vua Minh Tông) và làm Thái Thượng Hoàng cho đến khi qua đời. Trần Anh Tông là một minh quân, trong triều lại có những người tài giỏi hết lòng giúp việc nước. Về văn có Trương Hán Siêu, Đoàn Như Hài, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn. Về võ có Phạm Ngũ Lão, Lê Trung Hiển...

5-    Trần Minh Tông – Trần Mạnh (21/8/1300 – 19/02/1357) là vị Hoàng đế thứ năm của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi 15 năm (1314 - 1329) và làm Thái thượng Hoàng 28 năm. Mẹ là Chiêu Từ Hoàng Hậu Trần Thị, (là phi tần rất được sủng ái của vua Anh Tông), là con gái Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng. Ông là người con trai duy nhất sống đến khi trưởng thành của Trần Anh Tông. Bấy giờ các Hoàng tử sinh ra đều khó nuôi, nên khi hoàng tử Mạnh chào đời, Anh Tông đã nhờ Thụy Bảo công chúa, cô ruột của Anh Tông nuôi hộ. Công chúa cho rằng mình đang bị ách vận nên đã nhờ anh ruột là Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật nuôi. Trần Nhật Duật coi Hoàng tư Manh như con mình và đặt tên là Thánh Sinh (con trai trưởng của Trần Nhật Duật là Thánh An, con gái là Thánh Nô). Hoàng tử được nuôi như vậy cho đến lúc lên ngôi. Ông là vị Hoàng Thái Tử đầu tiên kế vị của họ Trần mà không phải là vợ chính của vua cha sinh ra, trong khi các vị Hoàng đế của nhà Trần đến đời Anh Tông đều là con trai của chính thất Hoàng hậu sinh ra. Trần Minh Tông tuy nối ngôi còn trẻ, nhưng vốn thông minh tài trí, sự hưng thịnh của đất nước tiếp tục được mở mang làm rạng rỡ cơ nghiệp của Trần Thái Tông. Ngày 07/02/1329, Trần Minh Tông xuống chiếu Phong Trần vượng làm Thái tử. Đến ngày 15/02 ông nhường ngôi cho thái tử vượng, ông lên làm Thái Thượng Hoàng cho đến khi qua đời.

6-    Trần Hiến Tông – Trần Vượng (17/5/1319 – 11/6/1341). Ông là con trưởng của Trần Minh Tông, mẹ là Minh Từ quý Phi Lê Thị. Tuy là con đầu nhưng mẹ là Phi tần. Ông là vị Hoàng đế thứ sáu của triều đại nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Trị vì 13 năm (1329 - 1341). Tự xưng là Triết Hoàng. Đặt niên hiệu là Khai Hựu. Trần hiến Tông cai trị trên danh nghĩa, nhưng việc điều khiển triều chính đều do Thái Thượng hoàng Trần minh tông giải quyết xử lý. Mùa đông năm 1329 người Ngưu Hồng nổi dậy chiếm đất cõi Đà Giang, Thái Thượng Hoàng Minh Tông thân chinh đi đánh dẹp. Trong thời gian Hiến Tông trị vì, đất nước có nhiều thiên tai động đất, bão, lũ, lụt lớn xảy ra. Về Văn hóa và một số ngành khoa học như Thiên văn, Lịch pháp, Y học cũng có những thành tựu đáng kể. Năm Khai Hựu thứ 13 (1341) ngày 11/6 ông qua đời, thọ 22 tuổi. Sau khi ông qua đời Thượng Hoàng Trần Minh Tông chọn người con thứ của Hiển Từ Hoàng Hậu là Hoàng tử Trần Hạo – Trần Dụ Tông lên nối ngôi.

7-    Trần Dụ Tông – Trần Hạo (19/10/1336 – 25/5/1369). Là vị vua thứ bảy của triều đại nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ở ngôi 28 năm (1341 - 1369). Ông lên ngôi Hoàng đế từ khi còn ấu thơ, tự xưng là Dụ Hoàng. Lấy niên hiệu là Thiệu Phong.  Thượng Hoàng Trần Minh Tông nắm mọi quyền bính, do đó đất nước thịnh trị, ổn định. Nhưng sau khi Minh Hoàng qua đời, Trần Dụ Tông chấp chính đổi niên hiệu là Đại Trị. Triều đại của ông đánh dấu sự mở đầu của quá trình suy yếu nền chính trị nhà Trần về sau. Lúc này nhà Nguyên đang đại loạn, cho sứ giả sang nhờ triều đình nhà Trần cứu viện. Nhưng triều đình thấy hỗn loạn nên không tham gia, tuy nhiên ông cũng điều quân lên biên giới phòng ngự để tránh bạo loạn. Ở phía nam quân Chiêm Thành nhiều lần cho quân sang cướp các vùng Thanh hóa, Hóa Châu. Dụ Tông ra sức đốc quân lính bảo vệ biên cương nhưng vẫn ở thế giằng co. Tuy hăng hái về chính sự, nhưng Dụ Tông lại thích hưởng lạc, cho xây nhiều cung điện, thích đánh bạc, nuôi chim thú lạ. Vì mải chơi bời nên đến khi mất vẫn không có con nối dõi và đã truyền ngôi cho kẻ gian là Dương Nhật Lễ. Sau nhờ có Trần Nghệ Tông giành lại được. Năm 1369 Dụ Tông băng hà ở Quang triều cung, thọ 34 tuổi. An táng tại Phụ Lăng, Thụy hiệu là Thống Thiên Thể Đạo Nhân Minh Quang Hiếu hoàng Đế. Dụ Tông không có con, trước khi mất, để lại di chiếu lập người con người anh là Cung Túc Vương Trần Nguyên Dục (vốn đã qua đời vào năm 1364) là Nhật Lễ lên kế vị. Trong triều muốn lập người anh khác của Dụ Tông là Cung Định Vương Trần Phủ lên kế vị. Nhưng Hiến Từ hoàng Thái Hậu nhất định đòi lập người con của Cung Túc Vương Trần Nguyên Dục là Dương Nhật Lễ lên ngôi. Vì bà cho rằng Nhật Lễ là con người con trai lớn, cháu đích tôn lên kế vị là hợp lý. Nguyên mẹ của Nhật Lễ là một đào hát, lấy một kép hát bội là Dương Khương có thai rồi mới bỏ Dương Khương mà lấy Cung Túc vương sinh ra Nhật Lễ. Triều thần không tán thành vì cho rằng Nhật Lễ là người họ Dương, nhưng Hiến từ Hoàng Thái Hậu cho là con của Cung túc Vương Trần Nguyên Dục. Tháng 6 năm 1369 Nhật Lễ được lên ngôi hơn một năm thì bị tông thất nhà Trần hội nhau khởi binh về bắt giết Nhật Lễ, rước Cung Định Vương lên kế vị, tức Trần Nghệ Tông.

8-    Trần Nghệ Tông – Trần Phủ (tháng 12/1321 – 15/12/1394) hoặc Trần Thúc Minh còn gọi là Nghệ Hoàng. Là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi hai năm (1370 - 1372), làm Thái thượng hoàng cho đến khi qua đời. Nghệ Tông là vị Hoàng đế có quyền lực tối cao cuối cùng của hoàng tộc họ Trần. Ông có công lớn lật đổ Dương Nhật Lễ và khôi phục lại cơ đồ cho triều đại nhà Trần. Tuy nhiên ông cũng chịu trách nhiệm chính cho việc hoàng vị họ Trần rơi vào tay của ngoại thích Lê Quý Ly, em họ bên ngoại của ông, do lúc sinh thời ông đã dung túng Quý Ly giết hại tôn họ Trần. Do đó, dẫu được ca ngợi là “công nghiệp lớn lao” ông cũng bị sử sách phê phán là nhu nhược, “nối giáo cho giặc” làm cho cơ nghiệp nhà Trần đến thời kỳ cáo chung. Năm 1372 Nghệ Tông nhường ngôi cho em là Trần Duệ Tông, lên làm Thái thượng hoàng.

9-    Trần Duệ Tông – Trần Kính (30/6/1337 – 04/3/1377) là vị Hoàng đế thứ chín của triều đại nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là hoàng tử thứ 11 của Minh Tông Duệ Hiếu Hoàng Đế, tước hiệu hoàng tử là Cung tuyên vương,  mẹ là Đôn Từ Quý Phi Lê Thị, em gái của Minh Từ Quý Phi, người cùng mẹ với chính thất của Minh tông là Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng Hậu Trần Thị. Ông là họ hàng của Lê Quý Ly (Lê Quý Ly gọi mẹ ông là cô ruột). Ông ở ngôi được 5 năm, năm 1377 ông bị tử trận trong một cuộc tiến công quân Chiêm Thành, dưới sự lãnh đạo của Chế Bồng Nga, quân Chiêm Thành đã đánh chiếm tận kinh sư. Họa Chiêm Thành chỉ lắng xuống khi quân Đại Việt dưới quyền Trần Khát Chân thắng lớn vào năm 1390. Trần Duệ Tông là vị vua duy nhất trong lịch sử Việt Nam bị tử trận khi đương quyền. Duệ Tông Hoàng Đế có lòng dũng cảm, mong muốn chấn hưng Đại việt đã bị tàn phá dưới thời Dụ Tông, Dương Nhật Lễ. Muốn trấn áp kẻ thù từ thời khai quốc của Đại việt là Chiêm Thành. Nhưng vì quá nóng vội muốn đánh bại kẻ địch nên đã bị bại trận và bị xem là yếu ớt nhược tiểu. Do ông là tấm bình phong lớn nhất cho dòng tộc nhà Trần khi đó, việc ông bị tử trận khiến Thượng hoàng Trần Nghệ Tông  khiếp đảm, sau này hễ Chế Bồng Nga tiến đánh là cùng Hồ Quý Ly bỏ kinh thành chạy dài. Trận thua lớn ở Đồ Bàn (nay thuộc xã Nhơn Hậu huyện An Nhơn, Quy Nhơn, Bình Định) khiến thế nước Đại việt suy kém, những người kế vị đều vô tài, nhà Trần ngày càng suy. Trần Nghệ Tông thấy ông vì việc nước bỏ mình, nên chiêu hồn chôn ở Hy Lăng và lập con trưởng của ông là Kiến Đức Đại Vương Trần Hiện lên nối ngôi, tức Trần Phế Đế.

10-           Trần Phế Đế - Trần Hiện (06/3/1361 – 06/12/1388) cải niên hiệu thành Xương Phù nên còn gọi là Xương Phù Đế hay Trần Giản hoàng, là vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Sách sử nhà Minh gọi Trần Phế Đế là Trần Vỹ hoặc Trần Nhật Vỹ. Ông ở ngôi từ năm 1377 đến năm 1388 thì bị Thượng hoàng Trần Nghệ Tông phế truất. Ông là con thứ của Duệ Tông, mẹ là Gia Từ Hoàng Hậu Lê Thị, em gái của quyền thần Lê Quý Ly. Ông gọi Trần Nghệ Tông là bác. Năm 1381 Giản Hoàng mở khoa thi Thái học sinh, song lại lựa chọn những người khỏe mạnh ra nhập quân đội, việc làm này không những đi ngược với tiền triều mà còn làm mất lòng dân, nản lòng binh sĩ. Tháng 6 năm 1377 Chiêm Thành là Chế Bồng Nga liên tục đánh chiếm, cướp phá Đại việt và đánh thẳng vào Thăng Long. Triều đình hốt hoảng bỏ kinh thành lánh nạn. Chế Bồng Nga cướp phá một chập rồi rút về. Tháng 5 năm 1378 Chế Bồng Nga lại tiến quân sang đánh Nghệ An rồi theo sông Đại hoàng cướp phá Thăng Long một lần nữa, thượng hoàng Nghệ tông lại phong Đỗ Tử Bình làm hành khiển và giao cầm quân, nhưng chưa đánh đã tan. Đến năm 1380 rồi năm 1382 quân Chiêm lại tiến đánh Đại Việt, song bị đánh lui. Tháng 6 năm 1383 chiêm Thành lại tiến đánh Đại việt theo đường núi. Thượng hoàng Nghệ Tông hốt hoảng sai tướng Mật Ôn ra giữ ở Tam Kỳ, nhưng Mật Ôn thua trận bị Chiêm Thành bắt sống. Nghệ Tông lại sai Nguyễn Đa Phương trấn giữ kinh thành, còn mình và Giản Đế chạy sang Đông ngàn. Quân Chiêm Thành một lần nữa tràn vào kinh thành cướp phá. Đến năm 1388 thì quân Chiêm rút về. Nghe lời Đỗ Tử Bình, triều đình tiếp tục cho tăng sưu thuế để cứu kho tàng trống rỗng vì chiến tranh, bắt mỗi suất đinh đóng 3 quan tiền thuế, khiến nhân dân ngày càng cực khổ. Mặt khác nhà Minh nhòm ngó Đại Việt, Minh Thái Tổ đòi 5.000 thạch lương để cấp cho Vân Nam, đòi cống nạp các loại sản vật quý hiếm và xin mượn đường sang đánh quân Chiêm. Năm 1388 Duệ Tông bị phế truất vì có mưu đồ trừ khử Hồ Quý Ly. Trần Nghệ Tông lập con nhỏ của mình là Trần Thuận Tông kế vị. Nghệ Hoàng tiếp tục nắm giữ đại quyền họ Trần trong thời gian dài. Trong thời gian này, Quý ly tìm cách gây dựng thanh thế, giật dây khiến Trần Nghệ Tông xuống tay trừ các đối thủ chính trị của mình, đặc biệt là các Tôn thất hoàng tộc họ Trần. Năm 1394 Nghệ Hoàng bệnh nặng và biết rõ dã tâm của Hồ Quý Ly nên đã sai người vẽ tranh Tứ phụ, lấy các tích cổ việc Chu Công giúp Chu Thành Vương, Hoắc Quang giúp Hán Chiêu Đế, Gia Cát Lượng giúp Thục Hán hậu chúa, Tô Hiến Thành giúp Lý Cao Tông là có ý răn đe Quý Ly trợ giúp Thuận Tông, từ bỏ dã tâm. Hồ Quý Ly khóc tạ theo. Cuối năm ấy Nghệ Hoàng qua đời. Hồ Quý Ly năm đại quyền trong tay, phế bỏ Trần Thuận Tông, trừ đi các Tôn Thất cản đường là Thượng tướng Trần Khát Chân và Thái Bảo Trần Nguyên Hãng. Đến năm 1400 Hồ Quý Ly cướp ngôi, lập ra triều đại nhà Hồ.

11-           Trần Thuận Tông – Trần Ngung (1377 – tháng 4/1399) Là vị hoàng đế thứ 11 của triều đại nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1388 đến khi bị ép nhường ngôi năm 1398. Ông là con út của Trần Nghệ Tông (không rõ mẹ là ai). Còn nhỏ được phong là Chiêu Định Vương. Khi lên ngôi tự xưng là Nguyên hoàng. Ông lên ngôi còn nhỏ tuổi, mọi việc đều do Thượng Hoàng Trần Nghệ tông nắm giữ điều hành. Tuy nhiên mọi ý kiến sắp đặt đều bị ảnh hưởng bởi Hồ Quý Ly. Hồ Quý Ly tiếp tục chuyên quyền, sau khi gả con gái là Hồ Thánh Ngâu cho ông, gài các tay chân thân tín nắm giữ các chức vụ then chốt trong quân đội và trong triều đình, khiến triều đình nằm cả trong tay Quý Ly. Năm 1396 Thuận Tông Hoàng Đế xuống chiếu định lại cách thi cử nhân, dùng thể văn bốn kỳ thay cho ám tả cổ văn. Thuận Tông lại cho phát hành tiền giấy, cho mọi người đem tiền đồng đến quy đổi, một quan tiền đồng được 1,2 quan tiền giấy. Năm 1397 Hồ Quý Ly ép thuận Tông rời đô về An Tông phủ Thanh hóa. Nguyễn Nhữ Thuyết can rằng “An tôn là đất chật hẹp hẻo lánh, cuối nước đầu non, nên với loạn mà không nên với trị, chỉ cậy hiểm được thôi”, nhưng quý Ly không nghe, quyết định rời đô, đổi trấn Thanh hóa thành Thanh Đô, bổ nhiệm các chức tổng quản, thái thú. Năm 1398 Quý Ly ép Thuận Tông nhường ngôi cho thái tử Trần An để lên làm Thái thượng hoàng và khuyên ông đi tu theo đạo giáo. Chiếu nhường ngôi viết: “ Trẫm trước vốn mộ đạo, không có bụng làm vua, không có đức mà giữ ngôi thực khó làm nổi, huống chi bệnh thần kinh thường phát ra, thờ cúng và chính sự đều không làm được. Lời thề nguyền trước trời đất quỷ thần đều nghe. Nay nhường ngôi để vững nghiệp lớn, Hoàng thái tử An có thể lên ngôi hoàng đế. Phụ chính thái sư Lê Quý Ly là quốc tổ nhiếp chính, Trẫm tự làm thái thượng nguyên quân hoàng đế, tu dưỡng ở cung Bảo Thanh để thỏa chí xưa”.

12-           Trần Thiếu Đế - Trần An (sinh 1396 mất không rõ năm nào) Tháng 3 năm 1398 Thái tử An lên ngôi khi đó mới 2 tuổi, tức Trần Thiếu Đế, mẹ là Khâm Thánh hoàng hậu Lê Thánh Ngâu – con gái lớn của Lê Quý Ly, trở thành Hoàng thái hậu. Thuận Tông Hoàng đế được tôn hiệu là thái thượng nguyên quân Hoàng đế. Ông là vị Hoàng đế thứ 12 và là vị Hoàng đế cuối cùng của triều đại nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Lúc Thiếu Đế lên ngôi, thượng hoàng Trần Nghệ Tông đã băng hà, quyền thần Lê Quý Ly cũng là ông ngoại của Thiếu Đế, càng nôn nóng muốn tước đoạt ngôi vị nhà Trần. Năm 1400 Thiếu Đế khi đó mới 4 tuổi bị buộc phải nhường ngôi, sự kiện như Hán Hiến Đế Lưu Hiệp nhường ngôi cho Tào Phi (con Tào Tháo). Thiếu Đế bị phế, nhưng vì là cháu ngoại của Hồ quý Ly nên không bị giết, chỉ bị giáng xuống làm Bảo Ninh Đại vương. Triều đại nhà Trần chính thức bị soán vị sau 175 trị vì Đại việt. Sau này nhà Minh sang tiêu diệt nhà Hồ thì số phận của ông không rõ.

III-           Nguồn gốc:

Tổ tiên dòng dõi nhà Trần có nguồn gốc thuộc tộc người Bách Việt ở đất Mân, quận Tấn Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa.

Cụ Trần Kinh từ Phúc Kiến sang Việt Nam vào khoảng năm 1110, thời vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127). Lúc đầu mới sang cư trú tại xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh ngày nay. Sinh sống bằng nghề chài lưới trên sông nước. Trên đường làm ăn chuyển dần vào hương Tức Mặc, huyện Thiên Trường, (huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định ngày nay). Trần Kinh lấy vợ ở Tức Mặc, sinh ra Trần Hấp và cư trú tại đây.

Bố con cụ Trần Kinh sống bằng nghề chài lưới ở Tức Mặc. Một hôm vớt được một người bị bọn cướp trói trên bè chuối thả trôi sông, sau khi cứu, nuôi ăn thì người này nói là thầy Địa lý giỏi, chuyên đi tìm thế đất để đặt mộ cho các nhà quyền quý. Xin biếu một vùng đất cát địa, đó là vùng Tinh cương ( làng Tam Đường, sở dĩ gọi là Tam đường vì làng gộp lại của ba thôn là Phúc Đường, Ngọc Đường và thái Đường) phủ Long Hưng, nay là huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình..vùng đất có hình thế “ tiền Tam thai, hậu Thất tinh” vùng đất phát vương. Nay xin được dâng tặng vì ơn cứu mạng.

Sau khi Trần Kinh mất, Trần Hấp theo như chỉ dẫn của thầy địa lý di rời mộ cha táng ở gò hỏa Tinh, đất Tinh Cương. Thế đất được mô tả như sau: “ Phấn đại dương giao chiếu/ Liên hoa, dĩ sắc đắc thiên hạ” (Dịch nghĩa là: “Phấn son cùng chiếu rọi, Trước mặt nở hoa sen”, nghĩa là sau này ắt nhờ người phụ nữ có nhan sắc mà đoạt được thiên hạ). Trần Hấp ngày ngày chài lưới đánh cá, tối về canh chòi trông nom chăm sóc mộ cha. Từ khi chuyển mộ đến khi Trần Hấp lấy vợ là 28 năm.

Trần Hấp sinh ra Trần Lý và Trần Hoàng Nghị.

Trần Lý sinh ra Trần Thừa, Trần Tự Khánh và Trần Thị Dung.

Trần Hoàng Nghị sinh ra Trần An Quốc, Trần An Bang và Trần Thủ Độ.

Trần Lý:     

Là con trai Trần Hấp, cháu nội Trần Kinh. Dòng họ Trần tới định cư ở hương Tức Mặc (nay là huyện Mỹ Lộc, Nam Định), tới đời Trần Lý là đời thứ ba, chuyên nghề đánh cá. Họ Trần giàu có và có thế lực trong vùng, bên dưới có nhiều thuộc hạ. Tên của ông là Chép, một loài cá, (theo chữ Hán là Lý Ngư).

Trần Lý lấy vợ là Tô phu nhân là chị của đại thần Tô Trung Từ, nhà Lý. Ông sinh được ba người con là Trần Thừa (tên tục là Dưa), Trần Tự Khánh (tên tục là Ngạnh) và Trần Thị Dung (tên tục là Ngừ).

Năm 1209 loạn Quách Bốc nổ ra do Lý Cao Tông giết oan đại thần Phạm Bỉnh Di. Bộ tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc đánh vào kinh thành, lập con nhỏ của Lý Cao Tông là Lý Thẩm làm Hoàng đế. Lý Cao Tông chạy lên Quy Hóa. Thái tử Lý Sảm cùng An Toàn Hoàng Hậu và hai em gái chạy về Hải Ấp nương nhờ Trần Lý

Nghe theo lời khuyên của Phạm Ngu, Trần Lý và Tô Trung Từ bèn đón thái tử Sam về Lỵ Nhân lập làm Hoàng đế, giáng Lý Thầm làm Vương. Thấy con gái của Trần Lý là Trần Nhị Nương (tức Trần Thị Dung) có nhan sắc, Thái tử bèn lấy làm Phi và phong Trần Lý làm Minh Tự, Phạm Ngu làm Thượng phẩm phụng ngự, Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ.

Trần Lý và Tô Trung Từ bèn mang quân đánh về kinh thành dẹp Quách Bốc để lập công với nhà Lý. Cuối năm 1209, loạn Quách Bốc bị dẹp. Sử sách chép rất sơ lược về việc dẹp loạn Quách Bốc, chỉ ghi nhận chiến thắng của phe Trần Lý. Theo ghi nhận của Đại Việt sử ký toàn thư:

Anh em họ Trần họp hương binh để dẹp loạn, rước vua về kinh, khôi phục chính thống. Trừng trị bọn Quách Bốc làm loạn, xử tội theo mức độ khác nhau[4].

Có ý kiến đánh giá rất cao lực lượng của Trần Lý qua việc dẹp loạn Quách Bốc. Khi nhiều sứ quân đương thời không làm gì được Quách Bốc mà Trần Lý và Tô Trung Từ có thể đánh bại lực lượng này chứng tỏ thực lực của Trần Lý không nhỏ[5].

Kết cục[sửa | sửa mã nguồn]

Quách Bốc bị dẹp, đầu năm 1210Lý Cao Tông trở về Thăng Long. Trần Lý không kịp nhận phong thưởng của Cao Tông thì bị một lực lượng nổi dậy khác giết hại mà sử không rõ là lực lượng nào[4]. Vì vậy người con thứ của ông là Trần Tự Khánh thay ông cầm quân.

Cuối năm đó Cao Tông hoàng đế băng hà, con rể là Hoàng thái tử Sảm lên nối ngôi, tức là Lý Huệ Tông.

Truy tôn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau này cháu nội ông là Trần Cảnh lên ngôi, lập ra nhà Trần, truy tôn Trần Lý miếu hiệu Nguyên Tổ (元祖), thụy hiệu là Chiêu Hoàng đế (昭皇帝).

Năm 1232, nhà Trần ban bố các chữ quốc húy và miếu húy. Lợi dụng việc kiêng tên húy của Trần Lý, mới đổi triều Lý làm triều Nguyễn, đồng thời cũng để dứt bỏ lòng mong nhớ của dân chúng đối với nhà L

Đến đời Trần Lý, dòng họ Trần đã giàu có và nổi tiếng khắp vùng. Vì có loạn Quách Bốc ở kinh thành, Trần Lý đã đón Hoàng hậu Đàm Thị cùng thái tử Sảm về sống ở Lưu Gia, là gia trang giàu có nhất nước của Trần Lý, cách Thái Đường khoảng 4 dặm. Trong thời gian lánh giặc ở đây, Thái tử Sảm đã đem lòng yêu và cưới người con gái tài sắc vẹn toàn là bà Trần Thị Dung làm vợ.

Vua Lý Cao Tông mất, Thái tử Sảm lên ngôi, phong cho Trần Lý tước Minh Tự và phong chức Điện tiền chỉ huy sứ cho cậu vợ là Tô Trung Từ (vốn là võ quan triều Lý). Trần Thị Dung trở thành bậc mẫu nghi thiên hạ. Họ Trần dốc lòng giúp vua Lý dẹp loạn Quách bốc, Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng....

Trần Thị Dung sinh được hai người con gái là Thuận Thiên và Chiêu Hoàng.

 

 

Trần Thừa (1184 - 1234) – Trần Thái Tổ.

 

          Trần Thừa sinh: Trần Liễu, Trần Cảnh, Trần Nhật Hiệu, Trần Bà Liệt, công chúa Thụy bà và công chúa Thiên Thành.

         Trần Thừa còn gọi là Trần Thái tổ hoặc Trần Huy Tông là Thái Thượng Hoàng khi Trần Cảnh trở thành Hoàng đế và lập ra nhà Trần. Khi ấy Thái Tông còn nhỏ, ông cùng Thái sư Trần Thủ Độ làm nhiếp chính, nắm quyền từ khi lên ngôi 1225 đến khi qua đời, tổng cộng là 9 năm (17/2/1234).

 

          Trần Thị Dung: sinh được hai công chúa là Thuận Thiên và Chiêu Thánh.

Năm 1224 bệnh của Lý Huệ Tông ngày càng nặng mà không có con trai để nối nghiệp lớn, nhà vua ủy nhiệm cho một mình Chỉ huy sứ Trần Thủ Độ quản lĩnh các quân điện tiền hộ vệ cấm đình, coi giữ mọi việc quân sự trong ngoài thành thị. Công chúa thứ 2 Chiêu Thánh được lập làm Hoàng Thái Nữ, rồi làm Hoàng đế. Lý Huệ Tông truyền ngôi trở thành Thái thượng hoàng, rồi xuất gia ở chùa Chân Giáo, gọi là Huệ Quang thiền sư trong đại nội hoàng cung. Đàm Thái hậu cũng theo ông vào đây xuất gia.

Trần Cảnh : Con trai thứ của Trần Thừa được phong làm Chính thủ (Chi hậu chính chi ứng cục), cho hầu hạ gần gũi với Lý Chiêu Hoàng, được chiêu Hoàng yêu mến. Dưới sự sắp đặt của Trần Thủ Độ, Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh làm chồng, rồi đến tháng 12 năm 1225 (âm lịch), Chiêu Hoàng mở hội lớn ở điện Thiên An, trút bỏ áo ngự, mời Trần Cảnh lên ngôi Hoàng Đế. Cha Trần Cảnh là Trần Thừa được tôn làm thái thượng hoàng. Nhà Lý chính thức chuyển sang nhà Trần. Nhà Lý kéo dài 216 năm, với 9 đời vua.

Trần Cảnh lên làm vua năm 1225, lấy hiệu là Trần Thái tông. Năm 1226 suy tôn Trần Thừa làm Thái thượng Hoàng (Lịch sử Việt Nam, ông là một trong hai người là Thái thượng hoàng nhưng chưa từng làm vua, người kia là Sùng Hiền Hầu cha của vua Lý Thần Tông).

Năm 1237 Trần Thủ Độ ép Trần Thái Tông phế Chiêu thánh vì không sinh được người kế vị và lập chị của Chiêu Thánh là Thuận Thiên lên thay. Thuận Thiên vốn là vợ của Trần Liễu, (anh của Thái Tông) khi ấy đang có thai với Trần Liễu 3 tháng. Việc này đã khiến Trần Liễu làm loạn ở sông Cái, nhưng cuối cùng bị thất thế, nhưng được Thái Tông tha chết.

Cùng với cha – Thượng hoàng Trần Thừa và chú – Thái sư Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông đã tiến hành cải tổ luật pháp, hành chính. Đồng thời khuyến nông, thương và phát triển nền giáo dục Tam giáo đồng nguyên (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo). Ông củng cố xây dựng quân đội mạnh, ngăn chặn quân Chiêm thành cướp phá mạn nam. Trong thời gian đó, trên phía bắc của Đại Việt, dân tộc Mông cổ đã trỗi dậy thành một đế quốc quân sự hùng mạnh. Năm 1258, tướng Mông cổ là Ngột Lương Hợp Thai đem quân tấn công Đại Việt. Trần Thái Tông trực tiếp lãnh đạo kháng chiến và cuối cùng đã đánh bại quân Mông cổ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Quảng trường rộng mênh mông bên 3 ngôi mộ khổng lồ. 

 

     


Tập tục và tâm lý của người Việt Nam xưa và nay luôn có nguyện vọng là lúc nhắm mắt xuôi tay được trở về nơi quê cha đất tổ để phần mộ được đời đời con cháu trông nom. Mỗi khi vua Trần mất đi, thi hài được táng ở vùng đất phát nghiệp, với ước mong con cháu đời đời nắm giữ ngôi báu. 

Tại đây, nhà Trần cho xây dựng Thọ Lăng, Chiêu Lăng, Dụ Lăng, Đức Lăng vô cùng hoành tráng, là nơi an táng Thái Thượng hoàng Trần Thừa, vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Thánh Tông… Tuyên Từ Hoàng Thái hậu và vua Hiển Tông cũng được an táng ở An Lăng. 

Tại làng Thái Đường thuộc phủ Long Hưng còn xây các cung điện Tinh Cương, Hưng Khánh, Diên An, Diên Hiển, Thềm Thiên Trì… Bến Ngự là nơi các vua Trần đi thuyền từ Thăng Long về quê hương Tam Đường tế tổ tiên.

 

Lăng mộ 3 vị vua Trần ở An Sinh thảm hại thế này đây. 


Theo ông Cường, Phó ban quản lý di tích đền Trần, các nhà khoa học đã đào thám sát nhiều nơi trong vùng và chỉ đào sâu xuống lòng đất chừng 1m là phát hiện dấu tích di chỉ khảo cổ. Hệ thống thành quách ở đây hoành tráng không kém gì Thăng Long. 

Một công trình rất vĩ đại, ấy là nhà Trần đã đào một con sông lớn, giờ gọi là sông Thái Sư bao quanh thành, vừa để làm đường thủy, phục vụ việc đi lại, vừa là hào sâu cản bước quân giặc.

Cuối đời Trần, đất nước nhiều lúc lâm nguy, nạn giặc dã tàn phá lăng mộ, nên năm 1381, triều đình nhà Trần đã rước thần tượng ở một số lăng về vùng đất Yên Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh). 

Hiện ở làng Tam Đường còn lại 3 ngôi mộ khổng lồ, nguyên vẹn, gọi là Phần Bụt, Phần Trung và Phần Đa. Đáng lưu ý là nấm mộ có tên Phần Bụt, to như quả đồi, án ngữ phía Nam làng Tam Đường. 

Mặc dù đã bị tàn phá nhiều lần, 700 năm mưa gió mài mòn, song quy mô ngôi mộ vẫn còn rất lớn. Cách đây mấy chục năm, ngôi mộ bị đào bới, quách gỗ và quách đá lộ ra.

 

Nhìn cảnh lăng mộ, đền đài hoành tráng ở Tam Đường, lại thấy ngậm ngùi với nơi hương khói thờ tự vua Trần ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh). Ảnh chụp mộ vua Trần Anh Tông. 


Tương truyền, mộ phần Bụt đã từng bị Ô Mã Nhi cho lính khai quật. Khi đào đến phần quách đá thì mây đen vần vũ, sét đánh xuống sáng lòa cả vùng. Quân giặc cho rằng thần linh quở trách nên giặc sợ không dám đào tiếp.

Cũng vì lẽ đó mà khi đem bọn Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp về tế mộ tổ ở Thái Đường, vua Trần Nhân Tông trước cảnh lăng mộ tổ tiên bị đào bới, ngựa đá lấm bùn, nên đã tức cảnh làm hai câu thơ nổi tiếng: “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/ Sơn hà thiên cổ điện kim âu” (Đất nước hai phen chồn ngựa đá/ Non sông ngàn thủa vững âu vàng).

Vào những ngày lễ hội đầu xuân, đặc biệt là vào rằm tháng 2 âm lịch, hội đền Trần diễn ra rất long trọng ngay dưới chân những gò mộ khổng lồ. Hội có nhiều trò vui như chọi gà, đấu võ, thả diều, rước kiệu… Đặc biệt thú vị là tục thi luộc cá trắm rất độc đáo, tưởng nhớ đến nghề đánh cá của tổ tiên nhà Trần.