Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam

Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam


Trần Anh Tông (1293-1314)

Niên hiệu: Hưng Long
Trần Anh Tông còn gọi là Trần Thuyên quê ở Tức Mạc phủ Thiên Trường (Nam Định) là con trưởng thượng hoàng Nhân Tông, sinh ngày 17 tháng 9 năm Bính Tý (1276) mẹ là Khâm từ Bảo thánh Hoàng Thái Hậu

Trần Thuyên sinh trưởng trong một gia tộc quyền quý, ông nội là Thánh Tông hoàng đế, lúc đang tại vị rất yêu quý lập làm hoàng thái tôn, sau này vua cha Nhân Tông lên kế vị lập làm Đông cung hoàng thái tử. Từ nhỏ Trần Thuyên đã được ông, cha rèn cặp việc học hành văn chương.
Trong bối cảnh nước nhà bị chiến tranh, cậu bé Trần Thuyên ít nhiều đã chứng kiến cũng như biết được dư âm về cuộc chiến tranh tự vệ. Chính vì vậy nên năm 17 tuổi được vua cha nhường ngôi, vào ngày 9 tháng 3 năm Quý Tỵ (1293) lấy miếu hiệu là Anh Tông hoàng đế, đã gợi mở trong ông những suy tư về đất nước và thế nào là Tông miếu xã tắc.
Ngay từ khi lên ngôi hoàng đế, Anh Tông đổi niên hiệu là Hưng Long, đại xã cho thiên hạ, tôn thượng hoàng làm Hiếu Nghiêu quang thánh thái thượng hoàng đế, tôn mẹ làm Khâm từ bảo thánh hoàng thái hậu. Vua cũng ban chiếu về những chữ quốc húy để khi viết, thêm hoặc bớt nét tránh phạm húy.
Quá trình làm vua 21 năm, Anh Tông hoàng đế trú trọng việc kén chọn nhân tài. Ông biết các vị khai quốc công thần tài ba lỗi lạc như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải đều tuổi cao sức yếu và lần lượt qua đời nếu không có đội ngũ kế cận thì việc trị nước sẽ ra sao?. Do vậy ngoài các danh tướng vào bậc quốc lão như Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Chẩn... còn tuyển dụng Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Trần Thì Kiến...là đội ngũ mà Anh Tông rất kính trọng và tin tưởng. Dưới triều Anh Tông, triều đình tổ chức kỳ thi “miện sam” tức là thi cho các quan đã từng đỗ thám hoa, bảng nhãn trở xuống để kiểm tra trực tài, bổ dụng làm chức “Hiệu thư quyền miện”, hoặc “Bạ thư mạo sam” sung vào thuộc viên các nha ấy. Do vậy nhân tài được bổ sung có lợi cho quốc gia.
Chiêm thành tuy đã thuần phục nhưng thướng quấy phá ở phía Nam. Anh Tông bèn cử Đoàn Nhữ Hài đi sứ nhiều lần để vỗ về yên dân hai châu Ô, Lý, đồng thời phủ dụ vua Chiêm. Lại cùng phụ hoàng, gả em gái Huyền Trân cho vua Chiêm, hy vọng thuần phục được phía Nam. Năm Tân Hợi 1311 vua Chiêm là Chế Phí phản trắc, Anh Tông thân cầm quân đánh dẹp, bắt Chế Phí đem về.
Đối với thế lực phong kiến phương Bắc, mặc dù bị thất bại qua ba lần xâm lược Đại Việt, nhưng dưới thời Anh Tông vào các năm 1293, 1295, 1299, 1312 nhà Nguyên vẫn cho sứ giả sang hạch sách đòi cống phẩm và bắt vua Trần sang chầu...Nhưng vua Trần với lời lẽ mềm dẻo , lý do ốm đau đã khéo léo khước từ , lại có những thái độ cương quyết khiến sứ thần nhà Nguyên phải thất bại trở về. Trong thời gian làm vua, Anh Tông đã có những quyết sách đúng mực thể hiện ý chí sắt đá, bảo tồn lãnh thổ, khi cương, khi nhu nhưng đều đắc thế.
Đối với quan lại mẫn cán, cương trực như Trần Thì Kiến rất mực thanh liêm thì được cất nhắc. Những công thần đã về trí sỹ ví như Nguyễn Khiên Ngô, hiệu là Lỉễu Nhiễu là người thẳng thắn, nên vua rất quý trọng, thường không gọi tên mà gọi chức để tỏ tự tôn kính người già, khích lệ người cao tuổi mà vẫn đảm đương công việc.
Ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần (1314), Anh Tông hoàng đế nhường ngôi cho con là thái tử Mạnh, tức Minh Tông hoàng đế. Như vậy là Anh Tông ở ngôi 21 năm, 39 tuổi thoái vị, 6 năm làm Thái Thượng hoàng. Ông mất năm 45 tuổi tại cung Trùng Quang phủ Thiên Trường ngày 16 tháng 3 năm 1320 để lại nhiều sự luyến tiếc cho hoàng tộc và nhân dân cả nước. Anh Tông hoàng đế là vị vua có cá tính, bản chất trung hậu phục thiện.
Đướng lối trị quốc của Anh Tông luôn tạo sự phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa cho nước nhà. Đặc biệt ông là người biết nhìn người, dám giao trọng trách cho tầng lớp nho sinh ít tuổi mà nổi bật là học sinh Đoàn Nhữ Hải. Từ một nho sinh bình thường trở thành tài ba, lỗi lạc, hoàn thành xuất sắc đại sự mà hoàng đế giao phó.
Trần Anh Tông còn là một ông vua có tâm hồn thi sĩ và hội họa nên ông lấy việc di dưỡng tinh thần bằng bút. Xin trích bài “Đông sơn tự” để biết thêm về tâm tư của vị hoàng đế đối với chùa cảnh Đông Sơn:
Phong giao giải hôt thụ Thiền quýnhNguyệt tả quân tri dạ giản hànHưu hướng Ngũ đài lao mộng mịKhan lai thiên hạ kỷ Đông sanDịch (Huệ Chi)Gió lay Thiền trượng ve im tiếngTrăng chảy trong bình suối lạnh hơnMơ ước Ngũ đài chi nữa nhỉ?Trên đời hồ dễ mấy Đông sơn