Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam

Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam


Lễ hội Bạch Đằng & tục Khai ấn "Trần Triều" ở Linh Từ Tràng Kênh

Từ lâu, bốn tiếng Tràng Kênh-Bạch Đằng đã rất đỗi quen thuộc với người dân Đất Việt, thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu, những người yêu quý lịch sử, truyền thống văn hoá dân tộc.

Xuất phát từ nhận thức, các lớp người đời sau muốn biết công lao của tiền nhân, muốn học hỏi và phát huy truyền thống anh hùng của các đời trước, rất cần có thêm nhiều nguồn sử liệu, trong đó quan trọng nhất là các di tích lịch sử-văn hoá, nhân dịp kỷ niệm 780 năm Ngày sinh Quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (1228-2008) và kỷ niệm 720 năm chiến thắng Bạch Đằng lịch sử lần ba (1288-2008), thể theo ý nguyện của chính quyền và nhân dân địa phương, Công ty xi măng Hải Phòng đã tổ chức quyên góp từ tấm lòng thành tâm dốc ý của cán bộ, công nhân lao động, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm và đứng chủ hưng công xây dựng Linh từ Tràng Kênh (đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo) trên nền xưa, đất cũ. Theo cổ lệ và nhờ phép thông linh huyền diệu từ đền Trần, đền Bảo Lộc (Nam Định), đền Kiếp Bạc (Hải Dương), đêm 14 rạng ngày 15 tháng Giêng năm Kỷ Sửu-2009 này, Linh từ Tràng Kênh sẽ chính thức khôi phục lễ hội Bạch Đằng và lệ khai ấn “Trần triều” , đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của đông đảo  nhân dân và du khách thập phương. Đây là sự kiện văn hoá tâm linh thu hút sự quan tâm của đông đảo nhân dân thành phố.

        Linh từ Tràng Kênh được xây dựng dưới chân núi Mỏ Vịt-nơi Trần Hưng Đạo trực tiếp chỉ huy đội phục binh, bí mật dùng hoả công bất ngờ tấn công đốt cháy phần lớn thuyền giặc Nguyên trong trận Bạch Đằng năm 1288. Truyền thuyết ở vùng Tràng Kênh-Gia Đước kể rằng: Quân đội của Vương (Trần Hưng Đạo) đã vượt sông Thải, rồi hành quân dọc triền sông, có đoạn binh lính phải vận chuyển đá hộc để làm đường đi. Khoảng đất giữa hai quả núi Con Hươu và Áng Thị (thuộc khuôn viên Nhà máy xi măng Hải Phòng) có một thung lũng rộng chừng 2ha là nơi quân đội của Trần Hưng Đạo đóng đại bản doanh tiền phương, chuẩn bị cho trận “quyết chiến chiến lược” trên sông Bạch Đằng. Trần Hưng Đạo bố trí các đội phục binh ở núi Hương, núi Mỏ Vịt, núi Áng Xô, núi U Bò…Tại các nơi này, Vương đã sai đóng nhiều bè mảng có chứa chất dễ cháy để đánh hoả công.

     Sau chiến thắng quân Nguyên, nhà Trần đã nhận thức được rất sâu sắc vị trí của mảnh đất Thuỷ Nguyên trong chiến lược phòng thủ đất nước nên đã đặc biệt lưu tâm đến các làng xã ở vùng này. Cụ thể như: Vua Trần ban thưởng tước phẩm và cử nhiều tôi trung trực tiếp quản lý các làng xã ở vùng Tràng Kênh-Bạch Đằng. Hưng Đạo Vương nhiều lần trở về thăm lại chiến trường xưa và cử con trai thứ 5 là Hưng Trí Vương về chiêu tập dân lưu tán lập ra làng xã mới. Sách Đồng Khánh địa dư chí lược cho biết thêm: “Xã Thụ Khê có đền thờ Trần Hưng Đạo, thời Vương dẹp Ô Mã Nhi, đi qua Thụ Khê, sau khi phá giặc, để lại một thanh kiếm”, hoặc: “Đền Trần Hoàng Tôn, thờ con trai Anh Tông, tên là Quốc Bảo, dẹp giặc Phạm Bá Linh ở sông Bạch Đằng”…Đặc biệt, truyền ngôn ở làng Gia Đước cho biết: trước đây, làng có tới 18 bia tiến sĩ thời Trần, ở núi Áng Gối có “Bia ghi công đức Trần Hưng Đạo” trên vách đá…Những người hiểu rõ làng này cho biết: ngày xưa, Gia Đước lớn đến mức dân gian quanh vùng có câu “thượng Sao xa hạ Mỏ Vịt”. Khu vực Tràng Kênh-Bạch Đằng, trước đây có rất nhiều toà đền miếu nguy nga thờ Đức Thánh Trần và các tướng lĩnh của Ngài như: đền Trần Quốc Bảo, miếu  ông Lủi-người giao liên vô danh, dũng cảm, miếu Tây Giang-Phạm Hữu Điều, miếu Đông Giang Hầu-Vũ Nạp, miếu thờ công chúa Lê và công chúa Nụ, chùa Đông Trúc, chùa Tây Trúc… trong đó đền thờ Đức Thánh Trần và các tướng lĩnh đã tử trận trong trận Bạch Đằng lịch sử ở dưới chân núi Mỏ Vịt nổi lên như một trung tâm. Tục truyền, các đền miếu, chùa chiền này lúc khởi thuỷ đều do nhà nước đứng ra xây dựng, có quy mô khá lớn, thuộc loại “Đại danh lam”, “Trung danh lam” của quốc gia và xếp vào hàng quốc lễ. Bởi thế, ngay từ thế kỷ XIII, Phạm Sư Mạnh đã khẳng định: “Giang sơn vượng khí Bạch Đằng thu” ( Khí thiêng sông núi tụ cả lại ở Bạch Đằng). Tiếc rằng, sau khi đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Minh của nhân dân vùng Tràng Kênh-Bạch Đằng do Lê Ngã, người làng Tràng Kênh lãnh đạo, giặc Minh đã cho phá huỷ toàn bộ các công trình kiến trúc-nghệ thuật, tín ngưỡng-tâm linh thuộc loại “Thánh vũ kim tồn Bạch Đằng Giang”, nên hầu hết các di tích văn hoá thời Trần ở vùng nay đều bị huỷ hoại, chỉ còn lại một vài dấu vết mờ nhạt của những lần tu sửa, phục hồi sau này mà thôi.

   Đền thờ Đức Thánh Trần (tức Linh từ Tràng Kênh) được phục dựng trên khu đất đắc địa, mặt trông hướng đông bắc, tượng bày quẻ càn, thế đất hình rùa vàng, lại thêm rồng xanh ẩn phục, phía trước có thuỷ long. Bố cục mặt bằng của đền theo kiểu hình chữ đinh quen thuộc, gồm 3 gian tiền tế và 2 gian hậu cung, trông ra sông Thải, gió lành luôn luôn thổi, lưng dựa vào dải núi thất tinh Tràng Kênh-Dưỡng Động, bên tả có núi Mỏ Vịt chầu lại, bên hữu có sông Bạch Đằng chảy xuôi. Mở đầu là toà nghi môn sừng sững được thiết kế xây dựng theo lối hỗn hợp giữa tam quan của nhà Phật và nghi môn dạng tứ trụ của kiến trúc đền, đình truyền thống. Nghi môn được làm hoàn toàn bằng những phiến đá vôi nguyên khối: cổng giữa là ngôi lầu 3 tầng mái uy nghi, cao khoảng 10m, tượng trưng cho tam tài (Thiên-Địa-Nhân); hai cổng bên tựa ngôi lầu một tầng với 4 mái đao cong, tượng trưng cho tứ tượng. Cũng như tam quan, hệ thống tường bao quanh Linh từ Tràng Kênh đều được làm bằng đá vôi nguyên khối, vững chắc và trường tồn. Hai mặt được trang trí bằng hình thức điêu khắc chạm nổi, với hàng trăm đề tài phản ánh quan niệm về nhân sinh, vũ trụ và tín ngưỡng, tâm linh của người Việt xưa, như: lưỡng long chầu nguyệt, phượng múa, rồng hý thuỷ, tứ linh, tứ quý, thuỷ ba, ngũ phúc, bát bảo, cỏ cây và hoa lá thiêng…

   Cung cấm là nơi đặt ban thờ tượng Đức Thánh Trần bằng đồng (cao 1,6m, nặng 1,2 tấn), hai bên tả và hữu gian đặt ban thờ cộng đồng gia tiên dòng tộc “Đông A” và  Nhị vị vương cô. Ở giữa toà tiền tế đặt ban thờ công đồng, gồm các quan quân, tướng sĩ, dân binh đã tử trận trong trận Bạch Đằng năm 1288; tả gian và hữu gian đặt ban thờ chư vị văn quan và võ tướng tâm phúc của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.

    Có thể nói, việc các tập thể và cá nhân công đức tiền của để tu sửa, tôn tạo khu lăng mộ Hoàng tôn Trần Quốc Bảo và Công ty xi măng Hải Phòng đứng ra khôi phục Linh từ Tràng Kênh, lễ hội Bạch Đằng, là tín hiệu đáng mừng về sự chuyển biến nhận thức, theo hướng tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, các nhà hảo tâm đối với di sản văn hoá dân tộc trong đời sống đương đại. Hy vọng rằng, trong tương lai gần, các di tích lịch sử-văn hoá khác thuộc khu di tích-danh thắng Tràng Kênh-Bạch Đằng như đền thờ Tây Giang hầu-Phạm Hữu Điều, đền thờ Đông Giang hầu-Vũ Nạp, chùa Đông Trúc thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông và Trúc Lâm tam tổ… cũng sẽ được hồi sinh, góp phần nhắc nhở hậu thế về truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của cha ông và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc.

Trần Phương