Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam

Vua Trần Nhân Tông
Người được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam


Hải Phòng – Một trong những địa bàn Hoằng Pháp trọng yếu của dòng Thiền Trúc

Hải Phòng cùng với Hải Dương và Đông Triều (Quảng Ninh) xưa kia vốn là một địa bàn hành chính: trước thời Tiền Lê gọi là Sách Giang hay Nam Sách Giang; thời Lý-Trần gọi là Hồng Lộ hợp thành xứ Đông của dân gian. Thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương được gọi tên như bây giờ do người Pháp đặt ở thập niên 90 cuối thế kỷ 19.

Theo giới nghiên cứu lịch sử thì Hải Phòng- Xứ Đông không chỉ là nơi khởi phát của Đạo Phật Việt Nam mà còn là địa bàn gốc của dòng Thiền Trúc Lâm- một Thiền phái đậm đà tính dân tộc nhất trong Phật giáo Việt Nam. Bởi thế, đạo Thiền còn tác động mãi trong tâm thức tín đồ Phật tử Hải Phòng đến tận ngày nay và mãi mãi mai sau.         

  Dựa vào các nguồn sử liệu như: “Giao Châu ký” của Lưu Kỳ Hân, sách “Thuỷ Kinh chú” của Lệ Đạo Nguyên và sách “Lĩnh Nam trích quái”, “Thiền uyển tập anh” thời Trần…, các tác giả sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Viện Triết học Hà Nội-1988) cho rằng đạo Phật được truyền vào Hải Phòng từ những thế kỷ trước Công nguyên. Nhận định này, theo chúng tôi  thì hoàn toàn có cơ sở, bởi vết tích hiện còn lưu lại khá đậm nét tại vùng Đồ Sơn, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên…Về dấu vết vật chất thì có di tích chùa Hang (Cốc tự) và chùa Mẫu Sơn ở Đồ Sơn vốn là nơi tu hành và hoằng pháp của một vị thiền sư người Thiên Trúc, mà nhân dân địa phương tục gọi là sư Bần. Về huyền tích dân gian thì có chuyện Chử Đồng Tử, con rể của Vua Hùng được nhà sư tên là Phật Quang, người nước Thiên Trúc truyền cho đạo pháp tại vùng biển Xứ Đông…

        Yên Tử là khu di tích-danh thắng nổi tiếng của nước ta từ xưa đến nay, một trong những trung tâm văn hoá lớn của nền văn minh Lạc Việt- Đại Việt, những nền văn minh gắn liền với những chiến công huy hoàng chống giặc ngoại xâm, gắn liền với những kỳ tích dựng nước rực rỡ, gắn liền với thời kỳ độc lập tự chủ đầy khí phách hào hùng của dân tộc, Từ xa xưa, tín đồ Phật tử và nhân dân Hải Phòng-Xứ Đông đã một lòng hướng về cõi thiên Yên Tử-  nơi đất Phật trời Nam. Người Xứ Đông, không mấy ai không nhớ câu ca: “Trăm năm công đức tu hành-Chưa về Yên Tử chưa thành kiếp tu”. Nhưng Yên Tử chỉ thật sự trở thành nhộn nhịp, hấp dẫn là từ sau chiến thắng Bạch Đằng chống quân Nguyên-Mông xâm lược năm 1288, với sự nghiệp tu hành và sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm của Phật hoàng Trần Nhân Tông.

 

 

       Lần giở lịch sử thấy rằng: Giữa lúc “Non sông nghìn thủa vững âu vàng” như trong câu thơ nổi tiếng tràn đầy khí phách tự hào, bỗng nhiên vua Trần Nhân Tông đột ngột “bỏ ngai vàng, bệ ngọc” đến núi Yên Tử tu hành, không khỏi làm cho nhiều người bàng hoàng. Thực tiễn ba cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên-Mông xâm lược đã giúp vua Trần Nhân Tông thấy được sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc và vai trò to lớn của quần chúng nhân dân và là một người mộ đạo, nhà vua đã tìm thấy trong giáo lý nhà Phật chỗ dựa tinh thần để đoàn kết dân tộc. Và việc Trần Nhân Tông chọn Yên Tử để tập hợp tín đồ truyền bá giáo lý của mình, không phải là một sự lựa chọn ngẫu nhiên. Ngoài phong cảnh thiên nhiên thơ mộng, nơi từng có các bậc cao tăng gieo mầm Phật pháp như Quốc sư Phù Vân, Thiền sư Hiện Quang, mà từ Yên Tử còn có thể dõi tầm mắt tới tận vùng cửa bể Bạch Đằng Giang, nơi  có vị trí  chiến lược hết sức quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm Phương Bắc. Khi còn là tổng chỉ huy và đích thân xông pha mặt trận, Trần Nhân Tông và quân đội nhà Trần đã không ít lần nhận được sự giúp đỡ, che chở của nhân dân, tăng ni, Phật tử vùng cửa biển Bạch Đằng. Chẳng hạn như: Giữa lúc nguy khốn nhất bị giặc bao vây, truy đuổi gắt gao, vua Trần Nhân Tông đã được Trần Lại, người làng Hữu Triều Môn (Thuỷ Nguyên) cứu đói nhờ dâng cơm gạo xấu; dân làng Thuỷ Chú (Thuỷ Nguyên), Châm Kim (Kiến Thuỵ) cử người bí mật đưa Vua vượt vòng vây vào Thanh Hoá chuẩn bị cuộc phản công chiến lược; Có thuyết nói, Trần Hưng Đạo và bộ phận tham mưu chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 đã được các vị sư trụ trì chùa Vẽ (tên chữ là Hoa Linh tự) ở làng Đoạn Xá từng đi nhiều, hiểu rộng, tường tận địa hình, sông nước giúp đỡ vẽ bản đồ tác chiến; chùa Thiểm Khê (Thuỷ Nguyên) là nơi Trần Hưng Đạo luyện tập quân sĩ chuẩn bị cho trận đánh Trúc Động năm 1288; chùa Mai Động (Thuỷ Nguyên), nơi giúp quân đội triều đình xây dựng kho lương phục vụ chiến dịch Bạch Đẳng năm 1288; các làng xã phía Nam huyện Vĩnh Bảo còn lưu truyền rất nhiều về căn cứ Lưu Đồn- cung Trần Vương dã ngoại từng là căn cứ địa của nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ hai và lần thứ ba…

 

 

Đề cập đến động cơ tu hành, tư tưởng Phật giáo của Điều Ngự Giác Hoàng-Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông nói riêng và của dòng Thiền Trúc Lâm nói chung, không thể không nhắc đến vai trò và ảnh hưởng to lớn của Tuệ Trung thượng sĩ. Chúng ta đều biết, Yên Tử là nơi khai sinh một nền văn hoá Phật giáo nổi tiếng trong lịch sử, đó là Thiền phái Trúc Lâm. Và cũng biết ba người đứng đầu Thiền phái này là ông vua anh hùng Trần Nhân Tông, Pháp Loa Đồng Kiên Cương và Huyền Quang Lý Đạo Tái. Nhưng còn có một người đã góp phần không nhỏ trong việc giúp Phật hoàng Trần Nhân Tông dung nhập viên mãn cả ba dòng Thiền Vô Ngôn Thông, Tỳ ni đa lưu chi, Thảo Đường và dung hợp Phật-Nho-Lão vốn đang thịnh hành dưới thời Lý để hình thành Thiền phái Trúc Lâm thống nhất trong thời Trần, theo phương châm: “Chưa rõ thì chia làm ba giáo, hiểu rồi thì cùng ngộ một tâm” của Trần Thái Tông. Người đó chính là Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung, vì Tuệ Trung thượng sĩ là người đã truyền thụ giáo lý Phật giáo cho Trần Nhân Tông. Tam tổ thực lục chép rằng Nhân Tông “tham khảo những yếu chỉ của Tuệ Trung thượng sĩ, thu lượm được nhiều tinh hoa của đạo thiền, nên vẫn thờ Tuệ Trung là thầy”. Tuệ Trung thượng sĩ thế danh là Hưng Ninh Vương Trần Tung. Ông là con đầu của An Sinh Vương Trần Liễu và là anh cả của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Ảnh hưởng của Tuệ Trung thượng sĩ đến Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử bắt nguồn từ mối quan hệ thân tộc giữa ông và Trần Nhân Tông, trước khi nhà vua xuất gia. Là anh vợ của Trần Thánh Tông, với bẩm tính thanh cao, thông minh, thuần hậu, lại được giáo huấn chu đáo nên nghiệp học tinh thông, kiến thức thiền học uyên bác, Tuệ Trung thượng sĩ từng được vua Trần Thánh Tông rất kính trọng, gọi bằng huynh sư và ký thác Trần Nhân Tông cho ông dậy dỗ. Như chúng ta đã biết, Trần Nhân Tông tìm đến đạo Phật không chỉ với mục đích “độ” cho mình thoát khỏi vòng luân hồi, mà ông đến với giáo lý nhà Phật để tìm sự “giác ngộ”, “trí tuệ” cũng là tìm những điều giải đáp cho hàng câu hỏi lớn: con người là ai? thế giới này có hay không, thật hay ảo? vấn đề sinh tử ? vấn đề sắc không ?…Chuyện kể rằng: Một lần, Hoàng hậu Thiên Cảm, vợ Trần Thánh Tông, mời ông anh Tuệ Trung vào cung ăn tiệc. Trên bàn tiệc có cả cỗ mặn lẫn cỗ chay. Thấy anh mình trong bữa ăn quên cả kiêng khem mà nhũng đũa cả vào cỗ mănh một cách phóng túng, Hoàng hậu khẽ nhắc ông: “Anh đi tu Thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được ?”. Tuệ Trung thượng sĩ cả cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh; anh không muốn làm Phật và Phật cũng không muốn làm anh. Em chẳng nghe cổ đức có nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát, đó sao”. Trần Nhân Tông lúc bấy giờ cũng có mặt trong bữa tiệc, lần đầu tiên một cách lý giải khoáng đạt như vậy đã in sâu vào tâm trí rất non trẻ của ông. Có thể nói, đó là bài học nhập môn về Thiền học của Phật hoàng Trần Nhân Tông từ người thầy Tuệ Trung thượng sĩ. Từ đó, Trần Nhân Tông luôn tâm niệm thành kính là tham bác sâu vào những điều huyền cơ của Phật giáo mà mình chưa hiểu rõ qua vị thượng sĩ nổi tiếng khắp trong triều, ngoài nội này.

 

 

      Thực hiện kế sách giữ nước, nhà Trần chủ trương lấy “toàn dân vi binh, tông tử duy thành” (toàn dân làm lính, các thân vương cùng lo bảo vệ vương triều) và một trong những chính sách kinh tế được nhà Trần áp dụng là phong cấp thái ấp cho các vương hầu quý tộc và những người có công để làm phên dậu bảo vệ chính quyền. Vốn là người có nhiều công lao trong sự nghiệp chống đế quốc Nguyên-Mông (từng được cử làm phó Tổng tư lệnh cánh quân phía Đông do Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo đảm trách), nên sau khi đất nước khải hoàn, Hưng Ninh Vương Trần Tung được vua Trần giao trấn giữ miền biên tái Thái Bình (gồm vùng ven biển xung yếu Hải Đông-tức Hải Dương và Hải Phòng ngày nay). Trước đó, Hưng Ninh Vương Trần Tung được ban cấp thực ấp ở Vạn Niên, hiện chưa xác định được địa điểm cụ thể và theo dự đoán của nhà sử học Ngô Đăng Lợi có lẽ ấp Vạn Niên ở đâu đó gần ấp Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo. Ở làng Dưỡng Chính, xã Chính Mỹ, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, các nhà sử học đã phát hiện thấy dấu vết Tịnh thất Dưỡng Chân của Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung. Làng Dưỡng Chính vốn tên là Dưỡng Chân, sau kiêng huý vua Dục Đức là Ứng Chân nên mới đổi thành Dưỡng Chính. Các bậc cao niên địa phương giải thích về tên làng Dưỡng Chân là được bắt nguồn từ sự kiện: đại quân của nhà Trần trong lần hối hả hành quân ra vùng cửa biển để xây dựng thế trận Bạch Đằng năm 1288 đã dừng chân nghỉ lại một đêm tại đây, nên làng được mang tên Dưỡng Chân. Tịnh thất này nằm trên địa bàn thang ấp mộc An Sinh, An Phụ, An Dưỡng, An Bang của An Sinh Vương Trần Liễu được cấp sau vụ ông gây loạn cuối năm 1236. Chính tại Tịnh thất Dưỡng Chân này có lúc hai vua Trần là Thánh Tông và Nhân Tông đã họp bàn kế sách chống giặc với các thân vương, cũng như tham vấn ý kiến của Hưng Ninh Vương Trần Tung.

    Tục truyền, Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông đã nhiều lần về Tịnh thất Dưỡng Chân thăm hỏi, chăm sóc sức khoẻ và trao đổi về đạo học với Tuệ Trung thượng sĩ. Sau khi Ngài qua đời, Phật hoàng Trần Nhân Tông thân đến Tịnh thất Dưỡng Chân thu lượm các bài thuyết pháp của Ngài biên thành sách “ Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục”, lại sai danh sĩ Trần Khắc Chung viết lời cuối sách. Lời cuối sách của Trần Khắc Chung có đoạn: “ Thượng sĩ là ngọn đèn tổ của Phật hoàng, lấy tâm để truyền tâm. Xưa kia đức Phật bỏ ngôi vương giả, rời cỗ xe vàng, đến ngồi dưới gốc cây bồ đề, khai diễn phép võ thượng thừa, cứu độ vô lượng chúng sinh, làm bậc thầy ở cõi người và cõi trời. Thượng sĩ thực đã mở mang lĩnh vực ngộ được phép thần ấy…”. Như chúng ta đã biết, thời Trần, do ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm và uy tín cũng như đạo hành của Tuệ Trung thượng sĩ, đạo Phật ở vùng đất Hải Phòng ngày nay rất thịnh hành, đo đó, xuất hiện nhiều công trình chùa, tháp với quy mô lớn và mang đậm phong cách kiến trúc dân tộc như: Chùa Đông Khê (Nguyệt Quang tự), chùa Dư Hàng (Phúc Lâm tự), chùa Thường Sơn (Hàm Long tự), chùa Phù Lưu (Thiên Vũ tự), chùa Mỹ Cụ (Linh Sơn tự)… Dưới triều Trần (1226-1400), Chùa Đông Khê tên chữ là Nguyệt Quang tự (phường Đông Khê, quận Ngô Quyền) vốn là một sơn môn nổi tiếng của  Phật phái Trúc Lâm. Sau này. chùa được Thiền sư Như Hiện-đệ tử của Thiền sư Chân Nguyên đời thứ 5 trong Thiền phái Trúc Lâm trùng tu, tôn tạo, khai hoá thành chốn tổ vào đời Lê Hy Tông (1676-1705). Thiền sư Chân Nguyên (trụ trì chùa Lân-Long Động) là tăng chính chùa Quỳnh Lâm núi Tiên Du. Tục truyền, Thiền sư Như Hiện là bậc đạo pháp cao siêu, uy tín lẫy lừng, giáo hoá được rất nhiều tín đồ theo sơn môn Tế-Trúc Đông Khê. Năm 1684, Ngài được vua Lê hy Tông phong chức Tăng Cương, ban mỹ hiệu là Thuần Giác hoà thượng. Sau khi ngài thị tịch, đệ tử là thiền sư Tính Tĩnh người Đông Khê được truyền đăng kế vị, đã phát dương nguồn đạo, độ được 60 đệ tử xuất gia và trùng tu, tôn tạo hơn 40 chùa; Chùa Dư Hàng tên chữ là Phúc Lâm tự (quận Lê Chân), tương truyền dựng từ thời Tiền Lê, đến đời Trần, các vị Trúc Lâm Tam Tổ đã nhiều lần về đây giảng đạo, thuyết phát, độ tăng. Trong khu vườn  chùa hiện vẫn còn khu tháp mộ lưu giữ xá lỵ của “Trúc Lâm tam tổ”; Chùa Thường Sơn tên chữ là Hàm Long tự (Thị trấn Núi Đèo-Thuỷ Nguyên), vốn là đại danh lam thời nhà Trần. Tương truyền, vào cuối triều Trần, chùa còn được Từ Giác quốc sư (thế danh là Vương Huệ)-Đức Thánh  tổ Tổ đình Dưỡng Mông (dân gian quen gọi là tổ Non Đông) đứng chủ hưng công trùng tu, tố hảo. Đến năm Chính Hoà thứ 23 đời vua Lê Hi Tông (1702), chùa lại được Hoà Thượng Tịnh Cơ, môn đồ của Chân Nguyên Thiền sư trùng tu lại trên nền cổ tự…    

 

 

    Lại nói, vùng đất Hải Phòng luôn giữ vai trò là phên dậu phía Đông của kinh kỳ Thăng Long. Dưới triều Trần, nhất là từ sau võ công Bạch Đằng giang năm 1288, vùng đất Hải Phòng là nơi quần cư đông đúc, vùng đồng bằng theo triền sông Bạch Đằng, sông Thái Bình, sông Văn Úc, sông Lạch Tray ổn định, trù phú nên được các vua Trần đặc biệt chú trọng phát triển ba lĩnh vực: củng cố hệ thống phòng thủ, mở mang nông-ngư và xây dựng chùa chiền. Hầu hết các làng xã ở Hải Phòng thời kỳ này đều có một quần thể kiến trúc văn hoá với những ngôi chùa, toà miếu, đền thờ Mẫu khang trang. Đặc biệt, các ngôi chùa thực sự là những trung tâm văn hoá, chính trị, tư tưởng của các làng xã. Về kinh tế, song song với việc củng cố chính quyền, nhà Trần rất quan tâm đến việc cử các thân vương, quý tộc về đây chiêu mộ dân ly tán khai lập lên các làng xã mới: Công chúa Thiên Thuỵ-chị gái vua Trần Nhân Tông đã chiêu mộ dân khai hoang, đắp đê ngăn nước mặn, mở mang nhiều làng xã ở huyện Kiến Thuỵ và An Lão ngày nay. Bà Thiên Thuỵ (tức công chúa Quỳnh Trân) sau đi tu, dựng chùa lớn ở trang trại Nghi Dương (thuộc địa bàn xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thuỵ). Vua Trần Nhân Tông khi xuất gia, đôi lần về thăm chị ở chùa Nghi Dương; Một người chị khác của Trần Nhân Tông là công chúa Chiêu Chinh đã bỏ tiền của làm chùa Kha Lâm, đúc chuông, tô tượng, mở chợ bến đò và khai hoang ở vùng đất ven sông Lạch Tray (quận Kiến An ngày nay) và để lại cho dân làng Kha Lâm 171 mẫu ruộng; Công chúa Chiêu Hoa, người con trong dân gian của vua Trần Thánh Tông cùng chồng là Thái học sinh Cao Toàn, người làng Phù Liễn (Kiến  An) đã dốc lòng giúp dân làng Tiểu Trà (Kiến Thuỵ) đắp đê, trừ dịch tễ sau lụt; Thượng tướng Trần Quốc Thành- một quan lại cao cấp, một quý tộc nhà Trần có thái ấp ở Hà Đới (Tiên Lãng); Hoàng tử Trần Quốc Bảo (con vua Trần Anh Tông) có thái ấp ở Tràng Kênh (Thuỷ Nguyên); Thân Vương Trần Quốc Thị có điền trang ở Đông Phương (Kiến Thuỵ)… Sử cũ ghi: Liên tục trong nhiều năm, Trần Nhân  Tông đã nhiều lần về vùng đất lộ Hải Đông để khuyến khích sản xuất và khánh thành các chùa chiền mới được xây dựng như: chùa Dãng Trung, chùa Mỹ Cụ, Câu tử (Thuỷ Nguyên), chùa Mõ, chùa Trúc Lâm (Kiến Thuỵ), chùa Bùi (An Dương), chùa Quy Tức, chùa Kha Lâm (Kiến An), chùa Vân Bản (tên nôm là chùa Vạn Bún) ở Đồ Sơn…Trong đó, đáng chú ý là những ghi chép của sách Đồng Khánh dư địa chí chép: “Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi vua, đến tu ở chùa Yên Tử”. Một hôm, Ngài về Thiên Trường, đi qua làng Duyên Lão (nay thuộc xã Tiên Minh, huyện Tiên Lãng) có một ông già dâng lễ nghênh đón. Ngài mừng vì dân biết lễ, nên mới ban cho tên Duyên Lão; lại dặn sau này hễ thấy hòn đã trôi trên sông thì rước về thờ, sẽ được phù hộ, che chở. Đến khi Trần Nhân Tông hoá ở chùa Yên Tử, hoả táng thì ông già ở Duyên Lão thấy hòn đá trôi ngược dòng sông, nhớ lời dặn bèn rước về, lập đền thờ, rất linh ứng. Hòn đá đó nay vẫn còn ở trong đền.”

     Qua các đợt khảo sát ở Hải Phòng, được biết: Năm 1407, nhà Minh đặt ách đô hộ ở nước ta và trong suốt 20 năm thống trị, chúng thi hành chính sách vô cùng tàn khốc, siu cao thuế nặng, phá huỷ mọi chùa chiền, thu tượng Phật, chuông đồng để đúc súng đạn, huỷ bia đá, đốt sách và giết thầy giáo học trò, đàn áp nhân dân. Bởi thế, trên đất Hải Phòng ngày nay, những ngôi chùa thời Trần đều không còn để lại bất kỳ dấu vết gì, nhưng những vị tổ nổi tiếng của dòng Thiền Trúc Lâm như: Phật hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được phụng thờ trang nghiêm, thành kính trong một số ngôi chùa và đình đền, miếu mạo thì vẫn tồn tại nhiều thế kỷ nay. Nghiên cứu, tiến tới đầu tư phục dựng một số danh lam- thắng tích và cổ tự tiêu biểu của văn hoá Phật giáo Đại Việt thời Lý-Trần như: Tháp Tường Long (Đồ Sơn), chùa Long Hoa (Núi Voi-An Lão), Tĩnh thất Dưỡng Chân, chùa Mỹ Cụ, chùa Hàm Long (Thuỷ Nguyên)…luôn là nguyện vọng cháy bỏng của tăng ni, Phật tử Hải Phòng.    

TỲ KHEO THÍCH THANH GIÁC